Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

DỰ ÁN BÓNG MA TRÊN BẦU TRỜI

DỰ ÁN BÓNG MA TRÊN BẦU TRỜI
                                                                           




Trong những năm 1970, quân đội Mỹ muốn thay thế các máy bay B-52 già cỗi bằng những chiếc máy bay ném bom mới hiện đại hơn. Điều quan trọng là Mỹ muốn những chiếc máy bay có thể mang bom hạt nhân đến bất kỳ đâu trên thế giới chỉ trong một giờ và quan trọng là nó phải ‘vô hình’ trước radar và mọi hệ thống săn tìm của quân thù.
Phải mất hơn 10 năm với số vốn đầu tư lên đến hàng chục tỷ USD, nhà thầu Northrop Grumman đã nghiên cứu và chế tạo thành công chiếc máy bay ném bom tàng hình B-2. Một chiếc máy bay ném bom chưa từng biết đến trước đây, với khả năng vô hiệu hóa radar, đạt vận tốc siêu âm và có thể mang hàng tấn thuốc nổ và bom rải thảm lên kẻ thù.

Dự án siêu máy bay ném bom

Xuất phát từ một dự án bí mật có tên Máy bay ném bom công nghệ cao (Advanced Technology Bomber - ATB) vào năm 1979. Tại thời điểm này, cuộc chiến tranh lạnh vẫn đang diễn ra, ứng cử viên tổng thống Mỹ lúc đó là Ronald Reagan đã tuyên bố sẽ khôi phục lại sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ. Vào ngày 22 tháng 8 năm 1980, một nhân viên thuộc nội các của tổng thống Jimmy Carter đã công bố với báo giới rằng Bộ quốc phòng Mỹ đang phát triển nhiều mẫu máy bay mới, trong đó có cả ATB.
Sau khi xem xét thiết kế mẫu của nhiều công ty, chỉ có 2 đơn vị lọt vào vòng chung kết, đó là Northrop/Boeing và Lockheed/Rockwell. 2 công ty này sẽ cạnh tranh với nhau để chọn ra 1 thiết kế duy nhất cho dự án ATB. Vì là dự án bí mật nên trong suốt quá trình diễn ra, tất cả những người có liên quan đều sử dụng cụm từ " Aurora " khi nói đến ATB. Vào ngày 20/10/1981, thiết kế của Northrop/Boeing thắng cuộc và được chọn.




Thiết kế của Northrop sau đấy được đặt mã B-2 kèm theo tên gọi "Spirit". Vào giữa những năm 1980, thiết kế của B-2 Spirit có thay đổi do mục tiêu của dự án được thay đổi từ máy bay ném bom tầm cao sang tầm thấp. Việc thay đổi thiết kế đã khiến ngày cất cánh đầu tiên của B-2 bị dời lại 2 năm, kéo theo đó là khoảng 1 tỷ USD chi phí phát sinh. Đến năm 1989, đã có khoảng 23 tỷ USD được chi cho dự án phát triển B-2 một cách bí mật. Vào những lúc cao điểm, đã có đến gần 13.000 tham gia vào dự án.
B-2 Spirit ra mắt công chúng lần đầu tiên vào ngày 22/11/1988 tại nhà máy 42 thuộc Không quân Mỹ, đặt tại Palmdale , California , nơi nó được lắp ráp. Buổi giới thiệu đầu tiên được canh gác cực kỳ cẩn thận và những khách mời không được phép tham quan phía đuôi của B-2. Tuy nhiên, do không đặt ra quy định cấm bay trên không phận khu vực diễn ra buổi ra mắt nên một số phóng viên đã chụp được những bộ phận bí mật của máy bay từ trên cao. Chuyến bay chính thức đầu tiên của B-2 Spirit được thực hiện vào ngày 17/7/1989 cũng ngay tại sân bay này.




Ban đầu, chính phủ Mỹ lên kế hoạch sẽ sản xuất 132 máy bay tàng hình B-2 Spirit. Sau đó, con số này được giảm xuống còn 75. Đến năm 1992, dưới áp lực về tài chính và quốc hội, tổng thống Bush (Bush cha) tuyên bố sẽ chỉ có 20 chiếc B-2 được xuất xưởng (sau này tăng lên thành 21 chiếc nhờ vào việc tân trang lại một chiếc thử nghiệm). Một điểm khá thú vị về phi đội B-2 Spirit là mỗi chiếc đều có một tên gọi chính thức, được đặt theo tên các tiểu bang và thành phố của Mỹ, ví dụ như "Spirit of Texas" hay "Spirit of Hawaii".

Cấu tạo và hoạt động

left align image

B-2 là chiếc máy bay đắt nhất trong lịch sử từ trước đến nay, với chi phí sản xuất 2 tỷ USD mỗi chiếc. Do chi phí sản xuất và duy trì hoạt động quá lớn, Mỹ đã phải hạn chế số lượng hiện tại ở mức 20 chiếc.
B-2 có hình dáng khí động học khá đặc biệt, không chỉ giúp nó đặt được vận tốc lớn mà còn góp phần hấp thụ sóng radar của kẻ thủ. Nó có sải cánh dài tới 52m, chiều dài thân máy bay là 21m, trọng lượng không tải 71 tấn và có thể mang theo hơn 70 tấn các loại vũ khí, bom đạn.
Sử dụng 4 động cơ turbin General Electric F118-GE-100 với lực đẩy 77kN mỗi động cơ. B-2 có khả năng đạt tốc độ tối đa ở mức cận âm (1000 km/h), tầm bay 10.000 km và nếu được tiếp nhiên liệu nó có thể bay gần 20.000 km, đến bất cứ mục tiêu nào trên thế giới. B-2 có khả năng tiếp nhiên liệu ngay trên không .
Các hoạt động của chiếc máy bay được hỗ trợ khá nhiều bởi máy tính, Northrop Grumman đã trang bị hệ thống fly-by-wire, các hệ thống máy tính có thể tự động nhận thông tin từ các cảm biến, sau đó tính toàn tình huống và xử lý giúp máy bay luôn trong trạng thái ổn định. Do đó một phi hành đoàn của B-2 chỉ gồm 2 người, một phi công và một chỉ huy phi vụ.

Bóng ma vô hình

B-2 là mẫu máy bay ném bom có khả năng tàng hình, giúp nó tiếp cận mục tiêu mà kẻ thù không hay biết, có khả năng thực hiện nhiệm vụ mà các phi đội máy bay chiến đấu khác không thể làm được. Để làm được điều này, nó cần được thiết kế để khó nhận ra, giảm tiếng ồn, không để bị phát hiện bởi radar hay cảm biến hồng ngoại, đồng thời phải ngăn các sóng điện từ phát ra từ các thiết bị trên máy bay.
Do đó mà B-2 có hình dạng dẹp giống một con cá đuối và có màu đen, giúp nó hòa vào nền trời đêm, hầu hết các nhiệm vụ của B-2 được thực hiện vào ban đêm. Các động cơ của B-2 nằm sâu trong thân máy bay giúp giảm thiểu tiếng ồn. Thiết kế khí động học của nó cũng giúp các động cơ không phải hoạt động ở mức tối đa.
B-2 cũng phải xóa dấu vết nhiệt của mình, thường tỏa ra từ các động cơ. Các cảm biến hồng ngoại và tên lửa tầm nhiệt có thể dễ dàng ‘đánh hơi’ những vùng có nhiệt độ cao. Toàn bộ khí thải ra được đi qua một khoang làm lạnh trước khi xả ra ngoài, do đó nó làm giảm lượng nhiệt phát ra từ các động cơ.
Để có thể vô hình trước radar địch, cấu tạo lớp vỏ của B-2 được thiết kế đặc biệt bởi chất liệu composite có khả năng hấp thụ sóng điện từ. Các bộ phận bằng kim loại có khả năng phản hồi sóng radar như động cơ, bom đạn .. đều được đặt hoàn toàn ở bên trong. Hình dạng của chiếc B-2 cũng góp phần vô hiệu hóa sóng radar. Toàn bộ phần phía trước và mặt dưới của chiếc máy bay được thiết kế với các bề mặt cong, giống như một chiếc gương cầu, nó làm lệch hướng các sóng vô tuyến và khiến nó không trở lại được nguồn phát.



Vũ khí

Ban đầu, mục đích chính của B-2 là mang bom hạt nhân vào Liên Xô trong trường hợp có chiến tranh. Với sự sụp đổ của Liên Xô và các hiệp ước mới về sử dụng vũ khí hạt nhân, B-2 trở thành một máy bay ném bom đa chức năng.
Nó có 2 khoang chứa bom với các máy phóng quay, khi người chỉ huy xác định được mục tiêu, tín hiệu máy tính sẽ mở khoang chứa bom và điều khiển máy phóng quay đến một quả bom xác định được sử dụng cho nhiệm vụ. Sau khi được thả, một hệ thống dẫn đường sẽ giúp quả bom tìm đến đúng vị trí của mục tiêu. Loại bom dẫn đường này còn được gọi là JDAM.



Ngoài ra nó còn được trang bị các loại tên lửa hành trình, các loại bom Mark 82, Mark 84, bom GATOR, CBU-97. Đặc biệt, bắt đầu từ năm 2009, B-2 được trang bị thêm loại vũ khí có sức công phá khủng khiếp nhất, MOP (The Massive Ordnance Penetrator) là một quả bom với trọng lượng 14 tấn, dùng để phá hủy những boongke kiên cố nhất nắm dưới lòng đất, còn được mệnh danh là "Mẹ của tất cả các loại bom" -“The Mother of All Bombs” (MOAB). (hình trên góc phải)
Nhiệm vụ chính của B-2 là thả bom, bên cạnh đó tự tin với khả năng không thể bị phát hiện, B-2 không được trang bị bất kỳ lại vũ khí không đối không nào. Thậm trí nó cũng không có các hệ thống phòng thủ như pháo sáng đánh lạc hướng tên lửa. Tuy vậy, trong lịch sử chưa từng có chiếc B-2 nào bị bắn hạ.


Các cuộc chiến và tương lai



B-2 bắt đầu tham chiến trong Chiến tranh Kosovo năm 1999. Chiếc B-2 là máy bay đầu tiên sử dụng Vũ khí tấn công JDAM trong chiến tranh. Từ đó, chiếc máy bay này đã hoạt động tại Afghanistan trong "Chiến dịch Tự do vĩnh viễn" và tại Iraq trong "Chiến dịch Tự do Iraq".
Sau khi ném bom các mục tiêu tại Afghanistan, chiếc máy bay hạ cánh tại Diego Garcia, tái nạp nhiên liệu và thay thế đội bay cho lần xuất kích tiếp theo. Trong chiến dịch tại Iraq nó còn phải bay xa hơn bởi B-2 đóng tại căn cứ Diego Garcia.
Những phi vụ sau này ở Iraq diễn ra từ Căn cứ không quân Whiteman ở Missouri . Điều này khiến nhiều phi vụ kéo dài hơn 30 giờ và một phi vụ đã kéo dài hơn 50 giờ. Chiếc B-2 có tính năng tự động cao, không như những máy bay chiến đấu một người lái, một thành viên đội bay có thể ngủ, sử dụng toilet hay chuẩn bị bữa ăn nóng trong khi người kia điều khiển máy bay.
B-2 cũng đã được Mỹ dùng trong cuộc chiến Lybia cùng Liên quân NATO ủng hộ lực lượng nổi dậy Lybia năm 2011. Mới đây nhất, ngày 28/3, Mỹ đã điều 2 máy bay ném bom tàng hình chiến lược B-2 Spirit tham gia vào cuộc tập trận chung với Hàn Quốc. Hai chiếc B-2 Spirit đã bay thẳng từ căn cứ không quân Whiteman tại bang Missouri qua quãng đường hơn 10.460 km đến quốc gia Đông Nam Á này.
Văn phòng kiểm kê chính cho biết "đây là dự án phát triển máy bay ném bom có chi phí hoạt động cao nhất, tính trên mỗi chiếc máy bay xuất xưởng". Mỗi chiếc B-2 cần 119 giờ bảo dưỡng (so với mức 53 giờ của "pháo đài bay" B-52) và tốn 3,4 triệu USD/tháng tiền chi phí bảo dưỡng. Sở dĩ B-2 có mức phí cũng như thời gian bảo dưỡng cao là do yêu cầu cần có nhà chứa đủ rộng cho chiếc máy bay có sải cánh đến 52,4 m này. Không những thế, nhà chứa phải đảm bảo các yêu cầu về nhiệt độ để bảo vệ lớp vỏ "tàng hình" của B-2. Theo báo cáo của GAO, Government Accountability Office, tổng chi phí cho mỗi chiếc B-2 tại thời điểm năm 1997 là 929 triệu USD. Đến năm 2004, Mỹ đã chi tổng cộng 44,75 tỷ USD (trị giá quy đổi năm 1997) cho dự án B-2. Chi phí này bao gồm phát triển, sản xuất, cơ sở vật chất và linh kiện dự trữ.
Mặc dù vậy, Chính phủ Mỹ vẫn không tiếc tiền đổ vào việc nghiên cứu các công nghệ mới trên B-2. Mới đây, một hợp đồng trị giá 500 triệu USD đã được Chính phủ Mỹ duyệt để phát triển hệ thống cơ sở mạng, các thiết bị điện tử và hệ thống radar trên B-2. 



B-2 Spirits và F-22 Raptor bay đội hình trên không phận Guam


Hãng Northrop Grumman của Mỹ tuyên bố vừa thử nghiệm thành công hệ thống thông tin vệ tinh chống nhiễu mới (satcom) cho máy bay ném bom tàng hình B-2 Sripit để có được khả năng chống lại các hệ thống gây nhiễu và tác chiến điện tử của đối phương. 
Theo hãng tin quốc phòng Anh (Jane), việc trình diễn khả năng chống nhiễu vệ tinh cho máy bay ném bom B-2 đi kèm với chiến lược "chống tiếp cận/khu vực cấm" (A2/AD) trước các mối đe dọa ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Hệ thống thông tin tần số cao giống như mạng vệ tinh AEHF thường được xem là "an toàn" hơn do được ứng dụng những công nghệ vi mạch thế hệ mới, các thành phần nhu liệu (software) tinh vi, cương liệu (hardware) nhỏ gọn hơn, cũng như những chùm tia phát xạ tín hiệu hẹp hơn. 
Hãng Northrop Grumman đã tiến hành một thử nghiệm hệ thống thông tin vệ tinh AEHF trên một máy bay ném bom B-2 vào ngày18/4/2013 vừa qua. Trước đó, hãng này cũng đã đánh giá khả năng truyền phát và nhận tín hiệu của hệ thống radar AESA ở những góc quét khác nhau trong phòng thí nghiệm, trước khi được lặp đặt và thử nghiệm hoạt động trên máy bay ném bom B-2. 
Hệ thống radar AESA được hy vọng sẽ giúp B-2 nhận các thông tin chiến trường với tốc độ truyền dữ liệu nhanh hơn đáng kể so với những hệ thống liên lạc vệ tinh quân sự hiện tại được được sử dụng trong quân đội Mỹ. 
Với hệ thống thông tin vệ tinh chống nhiễu mới, dự kiến trong tương lai, sự nguy hiểm của loại máy bay ném bom tàng hình duy nhất đang hoạt động trên thế giới hiện nay sẽ trở nên ngày càng nguy hiểm hơn. Khả năng tàng hình cùng các hệ thống phụ như AEHF sẽ giúp B-2 có thể dễ dàng xâm nhập vào khu vực phòng thủ của quốc gia đối địch như Trung Quốc, thả bom phá hủy và nhanh chóng trở về căn cứ.
Hệ thống satcom sẽ cho phép máy bay ném bom tàng hình B-2 có thể hoạt động kết nối với mạng lưới vệ tinh tần số siêu cao tối tân (AEHF) của Không quân Mỹ (USAF). Mục đích của AEHF là để thay thế hàng loạt cho những vệ tinh quân sự Milstar mà Quân đội Mỹ đã triển khai từ những năm 1990 trên toàn cầu, bảo đảm khả năng chống bức xạ và gây nhiễu cho hệ thống thông tin quân sự của Quân đội Mỹ.

Genk.vn (HowStuffWorks)& News247.com(Jane)



Nguồn; __https://mail.google.com/mail/u/0/?shva=1#inbox/1409f2aec52b03b8.







Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét