Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

TỪ TIẾNG TRỐNG KÊU OAN NGÀY XƯA ĐẾN TIẾNG SÚNG DÂN OAN BẮN VÀO ĐẦU BỌN BẠO QUYỀN CSVN.

Hình ảnh: TỪ TIẾNG TRỐNG KÊU OAN NGÀY XƯA ĐẾN TIẾNG SÚNG DÂN OAN BẮN VÀO ĐẦU BỌN BẠO QUYỀN CSVN.

Đất đai là do tiền nhân , tổ tiên VN dày công xây dựng và để lại cho toàn dân VN,  đất đai là sở hữu toàn dân vì đất đai gắn liền với quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Đất đai là xương máu của nhiều thế hệ, cho nên không được dùng thuật ngữ chính trị để chối bỏ việc công nhận  "đất đai là sở hữu của toàn dân". Quy định này cũng là sự khẳng định và ghi nhận thành quả cách mạng về đất đai của Việt tộc. Trên thực tế, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai  phải bảo đảm được cho người sử dụng đất đai, chủ yếu là nông dân có các quyền cần thiết như: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, được bồi thường, được lựa chọn hình thức sử dụng đất, quyền sử dụng đất lâu dài, quyền cải tạo, bồi bổ đất đai để khai thác có hiệu quả cho cuộc sống…

Nhưng đất đai hiện nay lọt vào tay  giai cấp  mới, tức giai cấp tư bản đỏ csVN. Ngày nào bọn nầy còn ở trong rừng, chúng nứp dưới  đáy quần của giai cấp bần cố nông, đến khi cách mạng (?) thành công, chúng bò ra đồng bằng thành thị, rồi quay mặt 180 độ lại với giai cấp nầy. Chúng lợi dụng  chiến dịch "Cải cách ruộng đất" để cướp trắng đất đai và trả thù những người mà chúng từng núp trong đáy quần của họ. Cuộc chiếm đất , lấn đất đó kéo dài theo năm tháng...

Ngày xưa giai cấp nông dân nhẹ dạ, thiếu hiểu biết nghe theo Đảng để mong có ruộng đất (?). Ngày nay giai cấp NGHÈO ( nông dân, công nhân...) đều bị giai cấp thống trị lừa đão, cướp đất làm cho các giai cấp nầy  ly tán, khổ đau vì bị cướp mất đất, để rồi biến các giai cấp nầy thành một lược lượng sẳn sàng cầm súng bắn vào đầu bọn cướp ngày. Lực lượng nầy chính là một giai cấp mới được hình thành từ DÂN OAN. Chúng ta thử tìm hiểu cách giải quyết vấn đề DÂN OAN ngày xưa của các bậc hiền quân và cách giải quyết DÂN OAN ngày nay của bọn bạo quyền ra sao?? 

1. ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ

1.1. Từ tiếng chuông kêu oan

Đã là con người, không ai mà không có lúc lầm lỡ, người nắm giữ quyền hành không thể không có lúc gây oan ức, bất công. Vì thế, trong lịch sử văn minh nhân loại, những chính quyền hay giáo quyền thật sự biết lo cho dân, trọng công lý và nhân nghĩa, đều đặt ra nhiều phương cách để người dân hoặc tín hữu có thể khiếu nại, tố cáo, trình bày nỗi oan sai của mình. Các vị vua hiền ở đất nước ta rất quan tâm đến việc này.
Năm 1040, vua Lý Thái Tông giao việc xét xử, kiện tụng của dân cho chính thái tử Khai Hoàng Nhật Tôn, dùng điện Quảng Vũ của thái tử làm nơi xử kiện. Năm 1042, vua cho xây dựng Bộ luật Hình thư đầu tiên của nước ta, quy định phân minh các việc xử phạt, tránh việc làm tuỳ tiện, những lạm dụng của các quan lại gây ra oan trái cho dân. Bộ luật này đã thất truyền, chỉ còn Bộ luật Hồng Đức, thời nhà Lê sau này (x. Minh Tuấn, Đầu năm nghĩ về tiếng chuông kêu oan, Việt Báo, thứ Năm, 4-1-2007).
Trong cuốn Đại Việt Sử ký Toàn thư có kể Lý Thái Tông Hoàng đế là vị vua đầu tiên đặt ra tiếng chuông kêu oan (chung Đăng Văn) vào năm 1052. Trên nền điện Càn Nguyên, nhà vua đã cho xây điện Thiên An, thềm trước điện gọi là Long trì (thềm rồng) “phía Đông thềm rồng đặt điện Văn Minh, phía Tây thềm rồng đặt điện Quảng Vũ, hai bên tả hữu thềm rồng đặt lầu chuông đối nhau để dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông lên” (Trì chi Đông trí Văn Minh điện, Tây chí Quảng Vũ điện, trì chi tả hữu đối lập chung lâu để đăng văn, tiểu dân thứ mục oan uổng trì chi).
Trì chi đông trí Văn Minh điện, tây trí Quảng Vũ điện, trì chi tả hữu đối lập chung lâu dĩ đăng văn, tiểu dân thứ ngục oan uổng trì chi.
Năm 1158, vua Lý Thần Tông cũng “cho đặt cái hòm đồng ở giữa sân chầu để ai có việc gì thì bỏ thư vào hòm ấy”. Hình thức này cũng giống như người dân có oan sai được quyền gửi thư khiếu nại lên chủ tịch nước hay văn phòng chính phủ để xin giải oan cho mình.

1.2. Tới tiếng trống kêu oan

Tiếng trống kêu oan (Đăng Văn Cổ) có từ thời vua Lê Thái Tông. Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư (tr.7 ) có nhắc đến vụ tri huyện Dặc Khiêm bào chữa cho Phạm Luận, cả hai đều bị oan sai, bị giải về Yên Kinh. Nhờ có người anh của Khiêm đánh trống Đăng Văn khiếu oan nên mới được miễn tội (Khiêm kỷ hãm tội, Khiêm huynh kích đăng văn cổ đắc miễn)
Khiêm kỷ hãm tội, Khiêm huynh kích đăng văn cổ đắc miễn.
Đến đời vua Tự Đức, triều Nguyễn, trống Đăng Văn là biểu hiện nghiêm minh của công lý, vừa thể hiện tính dân chủ vì kêu trực tiếp tới vua. Trống Đăng Văn treo ở Ty Tam Pháp, ở đoạn giữa cửa Thượng Tứ và cửa Ngăn tại kinh thành Huế. Vua ra lệnh trong thành nội không ai được đánh trống để khỏi lầm với tiếng trống Đăng Văn.http://sachxua.net/forum/index.php?topic=13008.0%3Bwap2

Người ta thực hiện tiếng trống này như sau: bất cứ ai bị xử oan ức thì đến lầu đặt trống, đánh 3 tiếng dõng dạc và 1 hồi vang vọng. Viện Đô Sát và Đại Lý Sự cử người trực ở chòi trống vào các ngày 6,16,26 mỗi tháng. Hễ thấy ai đánh trống kêu oan thì nhận đơn rồi đưa thẳng lên nhà vua. Vua đọc xong sẽ phê ngay trên đơn và đưa xuống Ty Tam Pháp xét xử ngay. Nếu đúng, vua sẽ ra lệnh phán quyết.
Để đề phòng người ta tự tiện đánh trống về những chuyện vớ vẩn, người đánh trống tự trói tay chân mình để xác định mình sẵn sàng chịu mọi hậu quả về việc kêu oan và chịu trách nhiệm về tiếng trống mình đánh.

2. VIỆC KÊU OAN NGÀY NAY

2.1. Quyền kêu oan của người dân

Hiến pháp 1992 đã quy định việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dân tại Điều 74, nhưng 6 năm sau, luật khiếu nại mới được Quốc hội thông qua, ngày 2-12-1998, và phải thêm gần 5 năm nữa Uỷ ban Thường vụ Quốc hội mới ban hành nghị quyết số 388/NQ, ngày 17-3-2003, về việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan. Ngày 25-3-2004, các ngành liên quan mới ban hành Thông tư Liên tịch, số 01/2004/TTLT để hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết 388 nói trên. Luật khiếu nại, tố cáo của Quốc hội năm 1998 đã được sửa đổi bổ sung vào những năm 2004,2005 và gần đây nhất là 1-6-2006: xác định quyền và nghĩ vụ của người khiếu nại, tố cáo cũng như trách nhiệm của cơ quan giải quyết khiếu nại.

Luật này yêu cầu cơ quan giải quyết trong thời hạn 30 ngày sau khi nhận đơn bằng văn bản rõ ràng, nếu không sẽ bị xem xét kỷ luật. Còn người khiếu nại phải trình bày trung thực sự việc và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và các chứng cứ, tài liệu đã cung cấp.

2.2. Tình trạng kêu oan ở Việt Nam

Tình trạng khiếu nại oan sai tại nước ta rất cần những tiếng trống kêu oan. Chính phủ đã báo cáo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2009 gửi Quốc hội. Theo đó, trong năm 2009, các cơ quan hành chính Nhà nước tiếp 307.797 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo và tiếp nhận 206.105 đơn thư tố cáo. Như thế, có tới hơn nửa triệu lần tiếng trống kêu oan được đánh lên, nhưng thử hỏi ai có trách nhiệm giải quyết và giải quyết như thế nào?

Báo cáo phân tích kết quả giải quyết 29.741 vụ việc khiếu nại, cho thấy tỷ lệ công dân khiếu nại, tố cáo đúng và đúng một phần vẫn còn cao. Điều này chứng tỏ công tác quản lý Nhà nước và việc giải quyết các quyền lợi của công dân nơi các cấp chính quyền vẫn còn nhiều thiếu sót, bất cập, cần phải có biện pháp để chấn chỉnh ( Báo điện tử Tuổi Trẻ, thứ Năm, 22-10-2009).

Ông Trần Thế Vượng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân nguyện Quốc hội, đã chia sẻ băn khoăn như sau: “Theo báo cáo của Toà án Nhân dân Tối cao, khoảng 10% số án bị khiếu tố được xem là có dấu hiệu oan sai. Nếu cộng thêm cả những đơn khiếu nại của Viện Kiểm sát, tỷ lệ oan sai chắc chắn sẽ nhiều hơn 10%. Đây là một vấn đề đáng chúng ta quan tâm vì nếu tỷ lệ vượt 10% thì chất lượng xét xử ở các toà án sơ thẩm tại Việt Nam quả thật cần nhiều tiếng trống kêu oan” ( Báo điện tử Tuổi Trẻ, thứ Bảy, 25-10-2008).

Trong lĩnh vực xã hội dân sự, ngoài những vụ oan sai trong quá trình bắt, giam, xử tù oan uổng còn biết bao vụ tranh chấp dân sự, kinh tế như các vụ tranh chấp đất đai, bồi thường đất, mua nhà đã trả tiền nhưng chủ lại không chịu giao nhà, những vụ án về lao động, kinh tế… Hàng trăm ngàn hồ sơ về những vụ việc này đang tồn đọng tạo nên những bức xúc, uất ức vì bị thiệt thòi quyền lợi, bị xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm đã khiến nhiều người rơi vào tình trạng hỗn loạn tâm thần, có người liều mình tìm đến cái chết hoặc nhờ nhóm xã hội đen giải quyết bằng bạo lực.

KẾT LUẬN

Người dân trong hoài bảo Độc Lập, Tự Do và Hạnh Phúc với quyền sở hữu đất đai căn bản được qui định theo chiều hướng "toàn dân làm chủ", đó là việc làm hợp lý và đồng thuận giửa cơ quan quản lý và dân oan, để người dân không còn phải nghe những tiếng trống trận thúc quân.... tiếng trống kêu oan hay tiếng súng hoa cải đày căm hờn của anh Đoàn Văn Vươn...nổ rền trên bầu trời VN.

Trong thời XHCN,  tiếng trống kêu oan đã được thay bằng tiếng súng. Từ tiếng súng hoa cải của Đoàn văn Vươn,http://www.voatiengviet.com/content/nong-dan-doan-van-vuon-khong-doi-duoc-cong-ly/1713639.html.

Rồi đến tiếng súng của anh Đặng Ngọc Viết.
http://news.zing.vn/Nguoi-ban-4-can-bo-UBND-Thai-Binh-da-chuan-bi-san-di-anh-post351744.html

Nếu như tiếng súng cứ theo thời gian trở thành lủy thừa tiến trong việc kêu oan, thì ngày tàn của csVN chắc chắn sẽ đến.
Giai cấp dân oan sẽ là giai cấp đi đầu trong việc tiển đưa bọn bạo quyền csVN về bên kia thế giới. Vì người cs là những người rất am tường  nguyên nhân của các sự kiện bùng nổ trong quá khứ " đâu có áp bức bất công là nơi đó sẽ xuất phát sự bùng nổ".

Lý Bích Thuỷ, ngày 13.9.2013
Ảnh của Mai Nguyễn Huỳnh.
Bác cùng chúng cháu hành quân
Nhân định CSVN
Bài viết của Lý Bích Thuỷ, ngày 13.9.2013 rất hay; có giá trị trong văn học lịch sử chiến tranh VN. Nhưng rất tiếc, nó không được đánh thức và làm thức tỉnh người dân Việt Miền Nam trước năm 1975 về hiểm họa " Cải cách ruộng đất Miền Bắc Cộng Sản...!?? " Nên mới có Cộng Sản/Tư Bản Đỏ VN ra đời. và đưa cả dân tộc Việt Nam vào thiên đàng mù Cộng Sản!?
Điều cần nói ở đây là dân Miền Nam VN theo cách mạng Cộng Sản-" Giải phóng Miền Nam- 30-4-75 ". Chỉ làm công việc hết sức đơn giản theo lời Cộng Sản; không cần lòng yêu nước hay yêu Chủ Nghĩa Xã Hội...!? Chỉ cần vác của cải, tài Sản, nhà cửa...ruộng đất từ ông chủ cũ, tư bản Tự do miền nam, đem về cống nộp cho ông chủ mới, tư bản đỏ miền Bắc/CS mà thôi!. Và chỉ bấy nhiêu đó, là Tự Do cũng mất vào tay cộng Sản Hà Nội. " Kẻ thua cuộc...! " chính là dân miền nam VN, nói riêng và nói chung là cả nước bị ông chủ tư bản đỏ CS Hà Nội dối lừa...!!!

  
 
TỪ TIẾNG TRỐNG KÊU OAN NGÀY XƯA ĐẾN TIẾNG SÚNG DÂN OAN BẮN VÀO ĐẦU BỌN BẠO QUYỀN CSVN.

Đất đai là do tiền nhân , tổ tiên VN dày công xây dựng và để lại cho toàn dân VN, đất đai là sở hữu toàn dân vì đất đai gắn liền với quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Đất đai là xương máu của nhiều thế hệ, cho nên không được dùng thuật ngữ chính trị để chối bỏ việc công nhận "đất đai là sở hữu của toàn dân". Quy định này cũng là sự khẳng định và ghi nhận thành quả cách mạng về đất đai của Việt tộc. Trên thực tế, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai phải bảo đảm được cho người sử dụng đất đai, chủ yếu là nông dân có các quyền cần thiết như: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, được bồi thường, được lựa chọn hình thức sử dụng đất, quyền sử dụng đất lâu dài, quyền cải tạo, bồi bổ đất đai để khai thác có hiệu quả cho cuộc sống…

Nhưng đất đai hiện nay lọt vào tay giai cấp mới, tức giai cấp tư bản đỏ csVN. Ngày nào bọn nầy còn ở trong rừng, chúng nứp dưới đáy quần của giai cấp bần cố nông, đến khi cách mạng (?) thành công, chúng bò ra đồng bằng thành thị, rồi quay mặt 180 độ lại với giai cấp nầy. Chúng lợi dụng chiến dịch "Cải cách ruộng đất" để cướp trắng đất đai và trả thù những người mà chúng từng núp trong đáy quần của họ. Cuộc chiếm đất , lấn đất đó kéo dài theo năm tháng...

Ngày xưa giai cấp nông dân nhẹ dạ, thiếu hiểu biết nghe theo Đảng để mong có ruộng đất (?). Ngày nay giai cấp NGHÈO ( nông dân, công nhân...) đều bị giai cấp thống trị lừa đão, cướp đất làm cho các giai cấp nầy ly tán, khổ đau vì bị cướp mất đất, để rồi biến các giai cấp nầy thành một lược lượng sẳn sàng cầm súng bắn vào đầu bọn cướp ngày. Lực lượng nầy chính là một giai cấp mới được hình thành từ DÂN OAN. Chúng ta thử tìm hiểu cách giải quyết vấn đề DÂN OAN ngày xưa của các bậc hiền quân và cách giải quyết DÂN OAN ngày nay của bọn bạo quyền ra sao??

1. ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ

1.1. Từ tiếng chuông kêu oan

Đã là con người, không ai mà không có lúc lầm lỡ, người nắm giữ quyền hành không thể không có lúc gây oan ức, bất công. Vì thế, trong lịch sử văn minh nhân loại, những chính quyền hay giáo quyền thật sự biết lo cho dân, trọng công lý và nhân nghĩa, đều đặt ra nhiều phương cách để người dân hoặc tín hữu có thể khiếu nại, tố cáo, trình bày nỗi oan sai của mình. Các vị vua hiền ở đất nước ta rất quan tâm đến việc này.
Năm 1040, vua Lý Thái Tông giao việc xét xử, kiện tụng của dân cho chính thái tử Khai Hoàng Nhật Tôn, dùng điện Quảng Vũ của thái tử làm nơi xử kiện. Năm 1042, vua cho xây dựng Bộ luật Hình thư đầu tiên của nước ta, quy định phân minh các việc xử phạt, tránh việc làm tuỳ tiện, những lạm dụng của các quan lại gây ra oan trái cho dân. Bộ luật này đã thất truyền, chỉ còn Bộ luật Hồng Đức, thời nhà Lê sau này (x. Minh Tuấn, Đầu năm nghĩ về tiếng chuông kêu oan, Việt Báo, thứ Năm, 4-1-2007).
Trong cuốn Đại Việt Sử ký Toàn thư có kể Lý Thái Tông Hoàng đế là vị vua đầu tiên đặt ra tiếng chuông kêu oan (chung Đăng Văn) vào năm 1052. Trên nền điện Càn Nguyên, nhà vua đã cho xây điện Thiên An, thềm trước điện gọi là Long trì (thềm rồng) “phía Đông thềm rồng đặt điện Văn Minh, phía Tây thềm rồng đặt điện Quảng Vũ, hai bên tả hữu thềm rồng đặt lầu chuông đối nhau để dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông lên” (Trì chi Đông trí Văn Minh điện, Tây chí Quảng Vũ điện, trì chi tả hữu đối lập chung lâu để đăng văn, tiểu dân thứ mục oan uổng trì chi).
Trì chi đông trí Văn Minh điện, tây trí Quảng Vũ điện, trì chi tả hữu đối lập chung lâu dĩ đăng văn, tiểu dân thứ ngục oan uổng trì chi.
Năm 1158, vua Lý Thần Tông cũng “cho đặt cái hòm đồng ở giữa sân chầu để ai có việc gì thì bỏ thư vào hòm ấy”. Hình thức này cũng giống như người dân có oan sai được quyền gửi thư khiếu nại lên chủ tịch nước hay văn phòng chính phủ để xin giải oan cho mình.

1.2. Tới tiếng trống kêu oan

Tiếng trống kêu oan (Đăng Văn Cổ) có từ thời vua Lê Thái Tông. Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư (tr.7 ) có nhắc đến vụ tri huyện Dặc Khiêm bào chữa cho Phạm Luận, cả hai đều bị oan sai, bị giải về Yên Kinh. Nhờ có người anh của Khiêm đánh trống Đăng Văn khiếu oan nên mới được miễn tội (Khiêm kỷ hãm tội, Khiêm huynh kích đăng văn cổ đắc miễn)
Khiêm kỷ hãm tội, Khiêm huynh kích đăng văn cổ đắc miễn.
Đến đời vua Tự Đức, triều Nguyễn, trống Đăng Văn là biểu hiện nghiêm minh của công lý, vừa thể hiện tính dân chủ vì kêu trực tiếp tới vua. Trống Đăng Văn treo ở Ty Tam Pháp, ở đoạn giữa cửa Thượng Tứ và cửa Ngăn tại kinh thành Huế. Vua ra lệnh trong thành nội không ai được đánh trống để khỏi lầm với tiếng trống Đăng Văn.http://sachxua.net/forum/index.php?topic=13008.0%3Bwap2

Người ta thực hiện tiếng trống này như sau: bất cứ ai bị xử oan ức thì đến lầu đặt trống, đánh 3 tiếng dõng dạc và 1 hồi vang vọng. Viện Đô Sát và Đại Lý Sự cử người trực ở chòi trống vào các ngày 6,16,26 mỗi tháng. Hễ thấy ai đánh trống kêu oan thì nhận đơn rồi đưa thẳng lên nhà vua. Vua đọc xong sẽ phê ngay trên đơn và đưa xuống Ty Tam Pháp xét xử ngay. Nếu đúng, vua sẽ ra lệnh phán quyết.
Để đề phòng người ta tự tiện đánh trống về những chuyện vớ vẩn, người đánh trống tự trói tay chân mình để xác định mình sẵn sàng chịu mọi hậu quả về việc kêu oan và chịu trách nhiệm về tiếng trống mình đánh.

2. VIỆC KÊU OAN NGÀY NAY

2.1. Quyền kêu oan của người dân

Hiến pháp 1992 đã quy định việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dân tại Điều 74, nhưng 6 năm sau, luật khiếu nại mới được Quốc hội thông qua, ngày 2-12-1998, và phải thêm gần 5 năm nữa Uỷ ban Thường vụ Quốc hội mới ban hành nghị quyết số 388/NQ, ngày 17-3-2003, về việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan. Ngày 25-3-2004, các ngành liên quan mới ban hành Thông tư Liên tịch, số 01/2004/TTLT để hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết 388 nói trên. Luật khiếu nại, tố cáo của Quốc hội năm 1998 đã được sửa đổi bổ sung vào những năm 2004,2005 và gần đây nhất là 1-6-2006: xác định quyền và nghĩ vụ của người khiếu nại, tố cáo cũng như trách nhiệm của cơ quan giải quyết khiếu nại.

Luật này yêu cầu cơ quan giải quyết trong thời hạn 30 ngày sau khi nhận đơn bằng văn bản rõ ràng, nếu không sẽ bị xem xét kỷ luật. Còn người khiếu nại phải trình bày trung thực sự việc và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và các chứng cứ, tài liệu đã cung cấp.

2.2. Tình trạng kêu oan ở Việt Nam

Tình trạng khiếu nại oan sai tại nước ta rất cần những tiếng trống kêu oan. Chính phủ đã báo cáo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2009 gửi Quốc hội. Theo đó, trong năm 2009, các cơ quan hành chính Nhà nước tiếp 307.797 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo và tiếp nhận 206.105 đơn thư tố cáo. Như thế, có tới hơn nửa triệu lần tiếng trống kêu oan được đánh lên, nhưng thử hỏi ai có trách nhiệm giải quyết và giải quyết như thế nào?

Báo cáo phân tích kết quả giải quyết 29.741 vụ việc khiếu nại, cho thấy tỷ lệ công dân khiếu nại, tố cáo đúng và đúng một phần vẫn còn cao. Điều này chứng tỏ công tác quản lý Nhà nước và việc giải quyết các quyền lợi của công dân nơi các cấp chính quyền vẫn còn nhiều thiếu sót, bất cập, cần phải có biện pháp để chấn chỉnh ( Báo điện tử Tuổi Trẻ, thứ Năm, 22-10-2009).

Ông Trần Thế Vượng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân nguyện Quốc hội, đã chia sẻ băn khoăn như sau: “Theo báo cáo của Toà án Nhân dân Tối cao, khoảng 10% số án bị khiếu tố được xem là có dấu hiệu oan sai. Nếu cộng thêm cả những đơn khiếu nại của Viện Kiểm sát, tỷ lệ oan sai chắc chắn sẽ nhiều hơn 10%. Đây là một vấn đề đáng chúng ta quan tâm vì nếu tỷ lệ vượt 10% thì chất lượng xét xử ở các toà án sơ thẩm tại Việt Nam quả thật cần nhiều tiếng trống kêu oan” ( Báo điện tử Tuổi Trẻ, thứ Bảy, 25-10-2008).

Trong lĩnh vực xã hội dân sự, ngoài những vụ oan sai trong quá trình bắt, giam, xử tù oan uổng còn biết bao vụ tranh chấp dân sự, kinh tế như các vụ tranh chấp đất đai, bồi thường đất, mua nhà đã trả tiền nhưng chủ lại không chịu giao nhà, những vụ án về lao động, kinh tế… Hàng trăm ngàn hồ sơ về những vụ việc này đang tồn đọng tạo nên những bức xúc, uất ức vì bị thiệt thòi quyền lợi, bị xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm đã khiến nhiều người rơi vào tình trạng hỗn loạn tâm thần, có người liều mình tìm đến cái chết hoặc nhờ nhóm xã hội đen giải quyết bằng bạo lực.

KẾT LUẬN

Người dân trong hoài bảo Độc Lập, Tự Do và Hạnh Phúc với quyền sở hữu đất đai căn bản được qui định theo chiều hướng "toàn dân làm chủ", đó là việc làm hợp lý và đồng thuận giửa cơ quan quản lý và dân oan, để người dân không còn phải nghe những tiếng trống trận thúc quân.... tiếng trống kêu oan hay tiếng súng hoa cải đày căm hờn của anh Đoàn Văn Vươn...nổ rền trên bầu trời VN.

Trong thời XHCN, tiếng trống kêu oan đã được thay bằng tiếng súng. Từ tiếng súng hoa cải của Đoàn văn Vươn,http://www.voatiengviet.com/content/nong-dan-doan-van-vuon-khong-doi-duoc-cong-ly/1713639.html.

Rồi đến tiếng súng của anh Đặng Ngọc Viết.
http://news.zing.vn/Nguoi-ban-4-can-bo-UBND-Thai-Binh-da-chuan-bi-san-di-anh-post351744.html

Nếu như tiếng súng cứ theo thời gian trở thành lủy thừa tiến trong việc kêu oan, thì ngày tàn của csVN chắc chắn sẽ đến.
Giai cấp dân oan sẽ là giai cấp đi đầu trong việc tiển đưa bọn bạo quyền csVN về bên kia thế giới. Vì người cs là những người rất am tường nguyên nhân của các sự kiện bùng nổ trong quá khứ " đâu có áp bức bất công là nơi đó sẽ xuất phát sự bùng nổ".

Lý Bích Thuỷ, ngày 13.9.2013


   Huỳnh Mai St.8872
{Nhận diện CSVN } 

Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

Giấy bạc của hai nước Việt Nam

 2 VNĐ khác nhau một trời một vực. Một đồng miền Nam tự do thì lấy hình Trần-Hưng-Đạo hay Quang-Trung, hoặc cảnh này cảnh nọ, còn một đồng kia thì toàn thấy thằng chết tiệt HCM mà lại có mấy hàng chữ Tàu nữa. Có lẽ hắn 100% là HTC của Tàu gài vào VN nên mới làm thế để tưởng nhớ về cố quốc của hắn. Vậy mà biết bao nhiêu con người chưa thấy sáng con mắt ra cứ HCM muôn năm, với vĩ-đại, bó tay thôi ./. ( ý kiến dân)

***

Giấy bạc của hai nước Việt Nam

Trần Thị Hải Ý - "Vậy giấy bạc của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa độc lập, tự chủ, tự quyết, tự lực, tự cường và nhiều ‘tự’ khác mà lại có chữ Tàu phồn thể là điểm rất Lạ, đáng nêu câu hỏi. Phải chăng chữ Tàu trong giấy bạc của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thể hiện nỗi đau đáu hoài... cố hương của Một trong Hai ông chủ tịch nước họ Hồ?"
 
*
 
Sau 1954, Đông Dương (Indochine / Indochina) không còn là thuộc địa của thực dân Pháp nữa, mà trở thành bốn (4) nước độc lập, tự chủ, tự quyết, tự lực, tự cường: 1. Vương Quốc Lào (Laos), 2. Vương Quốc Cam Bốt (Cambodge / Cambodia), 3. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Miền Bắc, cộng sản) và 4. Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam, quốc gia).
 
Vậy mà hôm nay, tình cờ đọc được bài "Những câu hỏi đau đầu" của Alan Phan, người soạn bài này cũng đã thật sự đau đầu, đau quá nên có bài này. Mong chư vị ‘ngoạ hổ tàng long’ và đặc biệt các thành lão cách mạng trên In-tờ-nét ban cho liều thuốc giải.
 
1. Hình 20 Đồng
 
Có cả chữ Lào trong khung đen: 20 Liến (sao Liến, nay tiền Lào gọi là Kịp); và chữ Miên trong khung xanh: 20 Ria (Mờ phây Ria).
 
Sáu chữ Tàu (phồn thể) trong khung trắng bên trái, đọc từ trên xuống dưới là tên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa! Ba chữ (phồn thể, cách viết trước 1949) trong khung đỏ là Nhị thập Nguyên (20 Duên / Yuan).
 
2. Hình 50 đồng
 
Từ trái, chữ Lào trong khung đen là 50 Liến (Hạ Xíp Liến), chữ Miên trong khung xanh là 50 Ria (Ha xập Ria); chữ Tàu (phồn thể) trong khung trắng bên trái mặt sau, đọc từ trên xuống dưới là tên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, ba chữ trong khung trắng bên phải là Ngũ thập Nguyên (50 Duên / Yuan).
 
3. Hình 5 Đồng, từ phải xuống
 
Chữ Miên trong khung xanh là 5 Ria (Pram Ria); chữ Lào trong khung đen là 5 Liến (Hạ Liến); chữ Tàu (phồn thể) trong khung đỏ là Ngũ Nguyên (5 Duên / Yuan), và sáu chữ Tàu trong khung trắng đọc theo lối Tàu (từ phải qua trái) vẫn là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa!
 
Phồn thể hay Chính thể là lối viết cũ, nhiều nét, trên toàn cõi nước Tàu. Giản thể là lối viết ít nét được chính thức áp dụng trên toàn lục địa nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa từ 1949. Đến nay, nước Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) vẫn giữ lối phồn thể. Hồng Kông sau 1997, và Ma Cao sau 1999 sử dụng cả hai lối. Phồn thể vẫn là lối viết phổ biến trong cộng đồng người Hoa ở hải ngoại.
 
Vậy giấy bạc của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa độc lập, tự chủ, tự quyết, tự lực, tự cường và nhiều ‘tự’ khác mà lại có chữ Tàu phồn thể (khung đỏ và khung trắng) là điểm rất lạ, đáng nêu câu hỏi. Ở Nam Kỳ, chữ Nho đã được loại bỏ từ 1878, thay thế bằng chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Ở Bắc Kỳ, kỳ Thi Hương cuối cùng là năm 1915; ở Trung Kỳ, năm 1918. Kỳ Thi Hội cuối cùng là năm 1919. Đến năm 1962, riêng nước Việt Nam Cộng Hòa (1954-1975) đã hoàn toàn dùng việt văn và chữ quốc ngữ hiện hành làm phương tiện giao tế, giáo dục và trong mọi lãnh vực khác.
 
Giấy bạc nước Việt Nam Cộng Hòa (1954-1975)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Còn toàn tập ở đây, và ở đây với chi tiết năm tháng phát hành.
 
Bạn đọc thấy rõ là trên giấy bạc của nước Việt Nam Cộng Hòa không có một ngoại ngữ nào!
 
Phải chăng chữ Tàu trong giấy bạc của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thể hiện nỗi đau đáu hoài... cố hương của Một trong Hai ông Chủ tịch nước họ Hồ?
 
Trần Thị Hải Ý
 
(Nguồn hình giấy bạc 2 nước VN: Alan Phan và Internet)
 
TB. Bạn đọc có để ý không: Sinh thời, càng giàu tuổi, đại sự ‘Giải phóng Miền Nam’ của Người ta càng cấp bách và tàn khốc nên trông Người ta càng hom hem lép bẹp như ông Tiên Nâu; sau khi băng hà, qua phô-tô lộng kiếng chính thức bị / được treo khắp mọi nơi, mọi nhà và phô-tô chụp từ lăng Ba Đình có trên In-tờ-nét, đặc biệt trên tiền giấy của nước Cộng Hòa Xã Nghĩa Việt Nam Người ta trông phương phi phúc hậu như ông Tiên Tầu, nguyên
Nguồn: https://mail.google.com/mail/u/0/?shva=1#inbox/14106b6bc2ed2a43

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

" BẤT CHIẾN TỰ NHIÊN THÀNH "

 " BẤT CHIẾN TỰ NHIÊN THÀNH "


    Mẫu hạm Hoa Kỳ là lò phản ứng điện hạt nhân VN, biết di  động, hướng về Hoàng Sa & Trường Sa- Biển Đông.

 HÀNG KHÔNG MẪU HẠM HOA KỲ- LÒ PHẢN ỨNG ĐIỆN HẠT NHÂN VN CS..!?
Việt Nam CS, nên mua tàu ngầm hạt nhân của Mỹ và đặt nó ngoài khơi biển VN...!? Vừa đánh Trung Quốc, vừa sản suất điện hạt nhân tiêu dùng...!
Nếu có sự cố " Hạt nhân " thì đẩy lò phản ứng hạt nhân này ra hai quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa của Việt Nam. Tức thì Trung Quốc hoảng sợ rút quân ra khỏi "Tam Sa TQ " chạy về lục đia Trung Hoa. Và xin trả lại Hoàng Sa + Trường Sa cho Việt Nam, vì ô nhiễm môi sinh hạt nhân, nguyên tử như hai trái bom nguyên tử thả xuống Hiroshima & Nagasaki của Nhật trong thế chiến thứ 2...!??. Như thế Việt Nam " Bất Chiến Tự Nhiên Thành " nhờ phế thải hạt nhân Hoa Kỳ trôi dạt Biển Đông Á/TBD.

VN sẽ cắt làm đôi nếu có sự cố hạt nhân - BBC Vietnamese - Việt Nam
www.bbc.co.uk
 http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/09/130905_ninhthuan_dalat_nuclear_experience.shtml

Nếu có thảm họa hạt nhân thì VN sẽ bị chia cắt lâu dài, tê liệt kinh tế, và miền Trung bị phóng xạ bao trùm, chuyên gia cảnh báo....

 Huỳnh Mai St.8872
{ Người điểm tin }

Chuyện “người rừng”, còn một bí mật man rợ khác…?


Chuyện “người rừng”, còn một bí mật man rợ khác…?

Posted on August 15, 2013 by HNSG


Cha con người rừng Hồ Văn Thanh (82 tuổi) và Hồ Văn Lang (41 tuổi)

VietTuSaiGon_RFA

Trong câu chuyện cha con người rừng Hồ Văn Thanh (82 tuổi) và Hồ Văn Lang (41 tuổi) ở Quảng Ngãi đang gây sốt cho báo giới trong mấy ngày gần đây. Cũng là người cầm bút, cũng vừa tò mò, vừa muốn khám phá thêm một thứ gì đó ở những người đang “hot” này.
Chúng tôi tìm đến bệnh viện huyện Tây Trà, Quảng Ngãi, tiếp xúc hai cha con “người rừng”. Cảm giác chúng tôi nhận được là quá buồn, họ trông sợ hãi, buồn bã và lạc loài. Họ chỉ nói đúng hai tiếng “người rừng” khi chỉ về những người chung quanh. Không biết trong trí não họ có khái niệm người rừng hay người thành phố, người đồng bằng gì đó không?
Nhưng có lẽ, do nghe hai chữ “người rừng” nhiều quá, có thể họ đã nhập tâm. Và cũng có thể, trong mắt họ, đám người đã phá tan căn nhà của cha con họ, nắm ngược khuỷu tay lôi cha con họ ra khỏi nhà và mang họ về một nơi quá lạ lẫm như vậy, đám này hoàn toàn không tốt. Đương nhiên, những người đã dắt họ về đồng bằng sẽ tự cho mình là những cứu tinh, đang cứu hai cha con “người rừng” thoát khỏi cảnh khốn khó, sống rừng rú và dã man. Nhưng cũng đương nhiên, cha con “người rừng” sẽ nghĩ rằng cuộc sống tự do, tự tại của mình đã bị chấm dứt bởi đám người này. Vậy ai đúng, ai sai trong câu chuyện này?

Xét về những người gọi là “giải cứu” cha con người rừng trở về, đương nhiên nhóm người này thấy họ có lý, vì nếu không có lý, họ đã không làm, hơn nữa, câu chuyện mang người rừng trở về hòa nhập với đời sống cộng đồng, nghe ra có vẻ nhân đạo và có lợi cho nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Trong một chừng mực nào đó, nó có thể giúp cho nhà nước lấy được điểm từ thế giới văn minh vì hành động này, hơn nữa, chí ít, mấy ngày nay, vấn đề người rừng và câu chuyện của họ đã tập trung hướng dư luận một cách hiệu quả, báo chí khắp nơi đều đăng tin, săn tin và chạy tít ở trang đầu. Một quả bom thông tin vào “hàng tấn” ở Việt Nam.
Nhưng khi nhìn lại hình ảnh các dân quân tự vệ và đoàn viên đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã trói hai tay của người con, dắt đi trong tình trạng có đúng một mảnh khố bằng vỏ cây che hạ bộ, vô tư để báo chí chụp hình bộ dạng người rừng như thế để tạo hiệu ứng thông tin… Có lẽ, khó có thể tin được đây là một hành vi nhân đạo! Và khi đặt ngược vấn đề, tại sao chỉ cách quê nhà chưa đầy 70 kilomet, vốn là người hoạt động trong quân đội, đương nhiên là phải rành về đường rừng vì ông Thanh là bộ độ du kích, mà đã nói đến bộ đội du kích, hơn nữa là du kích dân tộc Cor thì một trăm người trên một trăm rành đường rừng (trừ những biệt động thành) nhưng ông Thanh quyết định ở lại trên rừng, không quay về quê cũ nữa.
Chắc chắn phải có trắc ẩn gì đó chứ không phải vì người nhà chết, bởi người nhà chết thì họ càng cần ở lại quê nhà để hương khói người đã khuất, đây là nếp chung của người Việt.
Câu chuyện trốn biệt tích vào rừng của ông Thanh làm tôi nhớ đến câu chuyện cái chết của cha một người bạn văn nghệ tên K., một cái chết man rợ khó tin. Ông H. là bộ đội, ông hoạt động biệt động thành ở Đà Nẵng, khu vực hoạt động của ông có khi lan sang vùng Điện Nam, Điện Ngọc thuộc Điện Bàn, Quảng Nam. Sau quá trình “ăn cơm nắm nằm đất đi đánh thù”, ông nhận ra mình đã chọn không đúng đường, ông xin được ra khỏi tổ chức.
Kết quả, tổ chức (nấp sau bụi chuối, được ngăn cách bằng cái nong, chỉ nghe giọng nhưng không thấy mặt) chấp nhận cho ông nghỉ hoạt động và sau khi ông nhận quyết định, họ tiễn ông ra khỏi cứ một đoạn đường và đến một bờ ruộng, một người của tổ chức chỉ định đã dùng đai cuốc đập từ phía sau khiến ông vỡ sọ, chết ngay tại chỗ. Tổ chức đào đất và chôn ông ngay vị trí đã đập. Sau đó, tổ chức cho người về nhà, bắt cha của ông H. ra chôn sống, chôn đến cổ, rồi bắn cho một phát đạn gọi là ân huệ vào đầu.
Câu chuyện tưởng như chấm dứt, chìm vào quên lãng… Nhưng, ba chục năm sau, trong một lần báo mộng, người bộ đội bị chết vì đai cuốc của đồng đội đã chỉ con mình tìm đến ông A., ông này đang sống cách nhà người con trai (là anh bạn văn nghệ tên K. của tôi) không xa. Lúc anh này tìm đến nhà ông A., ông đang chống gậy đứng chờ ngoài ngõ, vội vàng dắt anh vào nhà, trao anh một số giấy tờ và nói rằng tối qua ông cũng được ông H. về báo mộng, nói là sáng nay anh sẽ đến tìm ông.
Ông A. bắt đầu kể lại câu chuyện về cái chết của cha và ông nội anh, sau đó dắt anh ra chỗ đám ruộng ngày xưa đã chôn ông H., bây giờ nó đã là khoản sân của một khách sạn. Sau khi thương lượng với chủ khách sạn, gia đình đã đào một hố rộng 3m, sâu gần 5 mét, tìm được hài cốt. Và, phần sau của hộp sọ đã bị vỡ toang thành nhiều mảnh. Tiếp tục, anh K. đi tìm mộ ông nội, cũng đúng với vị trí báo mộng. Lần này, ông H. còn báo mộng cho anh K .biết kẻ đã giết cha và ông nội anh chính là lão N., từng nắm chức chủ tịch quận. Anh quyết định tìm đến hỏi tội lão N. để báo thù cho cha và ông nội, nhưng khi anh đến nơi thì… Lão N,. bây giờ bị cả trăm thứ bệnh và suốt ngày la hét, ỉa đái trây trét khắp nhà, con cái bỏ bê, không đứa nào dám tới gần.
Thấy anh K. tới, lão N. tự dưng tái mét mặt mày, run lẩy bẩy, quì thụp xuống lạy lấy lạy để anh K., miệng lẩm bẩm: “Anh H. ơi! Lúc đó tổ chức sai tui, tui lạy anh tha cho tui! Dù sao tui cũng chôn anh tử tế mà, anh tha cho tui!”. Anh K. bỏ về, lúc này, đồng đội cũ (có lẽ là tổ chức!) của ông H. lại đến làm lễ truy điệu, đưa hài cốt ông H. và cha ông H. vào nghĩa trang. Buổi lễ rất long trọng… Trở lại câu chuyện của cha con người rừng, theo hướng này, có thể đặt ra các giả thiết khác.
Vì tôi vốn là người nghe và xúc động về chuyện của cha anh K. nên tôi luôn hoài nghi, đặc biệt là hoài nghi về khả năng ngôn ngữ gọi là không rành tiếng Kinh của cha con ông Thanh. Vì khi bỏ lên rừng, ông đã qua khỏi tuổi đôi mươi, lẽ nào ông lại quên tiếng Kinh (ông đã từng sống và có nhà ở đồng bằng, tiếp xúc với người Kinh một thời gian không ngắn) một cách dễ dàng như thế sao?
Nói thầm vào tai, tôi đặt thẳng câu hỏi với hai người rừng này: “Có phải ông đang cố tình giấu tiếng Kinh vì có một bí mật nào đó trong cái chết của người thân và chuyện tổ chức?”. Cả hai người đều không trả lời tôi, họ lầm bầm thứ tiếng gì đó (có lẽ là tiếng Cor) sắc mặt họ thay đổi, họ lắc đầu, ra hiệu là không hiểu ý tôi nói gì. Nhưng tại sao họ tái mặt khi nghe tôi hỏi? Có vẻ như câu hỏi này tự nó đã có câu trả lời.
Trở lại chuyện họ được cứu hay là bị hại. Có lẽ trong hai cha con người rừng đã có câu trả lời rồi, vì nhìn vào vẻ mặt buồn bã khi phải lìa bỏ khu rừng, nhìn vào cách tránh né con người và quyết định lựa chọn sống biệt trong rừng suốt mấy chục năm mặc dù nếu trở về đồng bằng, họ chỉ tốn chưa tới ba ngày đường cũng đủ biết khi trở lại đồng bằng họ thấy vui hay buồn.
Và, không chừng, trong tâm khảm của hai người đàn ông vừa bị/được đưa về đồng bằng này, họ đã sống quá lâu trong chốn núi rừng, nơi họ được sống đích thực một con người, bây giờ, họ bị lôi về đồng bằng, họ lại phải sống với một đám “người rừng”, những con người gợi cho họ ký ức về cái chết của người thân, khiến họ đi biệt xứ và cố tình quên đi giọng nói, ngôn ngữ của mình. Nên vui hay nên buồn cho họ đây và còn một bí mật nào nữa?

http://www.hennhausaigon2015.com/201...54/#more-39354
Cận cảnh cha con "người rừng" được đưa về nhà Cập nhật 08/08/2013.-
Thống soái

Sau hơn 40 năm ôm con 2 tuổi bỏ làng trốn vào rừng sâu, sáng ngày 7/8, 2 cha con ông Hồ Văn Thanh (SN 1931) và người con là Hồ Văn Lang khoảng 41 tuổi đã trở về trung tâm huyện Tây Trà, Quảng Ngãi.



Ông Lang , ở thôn Trà Kem, xã Trà Xinh được cán bộ cho mặc áo và dẫn về.

Do sức khỏe yếu nên ông Thanh được về bằng cáng.


Nơi ở của cha con ông Thanh.
Được biết trong số 4 người con của ông Thanh, ngoài hai người con đã mất và ông Lang được cha mang theo vào rừng sâu sống, hiện còn 1 người con của ông Thanh đang sống tại Trà Phong, Tây Trà./VB (Dân Việt)
Reply With Quote  
   Huỳnh Mai St.8872
  {Người thông tin }

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

LỜI PHẢN TỈNH NGƯỜI VIỆT MIỀN NAM TỰ DO!


Trả lời Thư tín

Hòa Ái, phóng viên RFA
2013-09-06

043_dpa-pa_14864C00C267CF2F-305.jpg
Vườn hoa mùa hè ở Đức, ảnh minh họa.
AFP photo


Trong tuần qua, ban Việt ngữ tiếp tục nhận được nhiều ý kiến và chia sẻ của quý khán thính giả cùng độc giả gửi về xoay quanh sự kiện luật gia Lê Hiếu Đằng công khai khởi xướng thành lập 1 đảng mới song song cùng với Đảng Cộng Sản ở VN. Trong chương trình hôm nay, Hòa Ái tiếp tục lần lượt trích đăng những ý kiến này.
“Rất hoan nghênh luật gia Lê Hiếu Đằng, ông Hồ Ngọc Nhuận, ông Huỳnh Kim Báu và các nhân sĩ trí thức VN cùng các đảng viên Đảng Cộng Sản VN, đã từ bỏ Đảng CS và đã ủng hộ 3 bài viết của luật gia Lê Hiếu Đằng trong việc thành lập Đảng Dân chủ Xã hội để cứu đất nước VN. Chúng ta không bị Tàu đô hộ thêm 1 lần nữa. Các bạn thanh niên và sinh viên! VN nằm trong tay các bạn! Nước VN ta dưới sự cai trị độc tài của Đảng CSVN đã đưa đất nước VN lâm vào sự u thối và suy tàn từ chính trị, kinh tế, đạo đức và xã hội”.
“Thưa đài ACTD, tôi tên là Châu Kỳ. Tôi có 1 số ý kiến muốn nói với 2 ông tác giả Trọng Đức cũng như Giáo sư Vũ Minh Giang, vừa rồi có những bài viết phản biện lại bài viết của ông Lê Hiếu Đằng, như thế này: Thưa 2 ông, thật sự ra bây giờ ngồi nghe lại bài ‘Tuyên ngôn Độc lập’ do ông Hồ Chủ tịch đọc hồi năm 1945, rồi ngồi đọc lại những điều được ghi trong Hiến pháp của nước CHXHCNVN cũng giống như luật pháp VN hiện hành bây giờ, thì tất cả những điều đã nói lên những quyền rất căn bản của mỗi người như quyền tự do hội họp, tự do làm người, quyền bình đẳng, tự do tín ngưỡng, tự do công khai bày tỏ tư tưởng, tự do quảng bá thông tin v.v. Tất cả những điều đó, xin thưa 2 ông, tôi chưa bao giờ thấy được thực thi trong pháp luật VN một cách đúng đắn”.
“Tôi muốn nhờ đài ACTD cho tôi góp ý với ông Lê Hiếu Đằng về vấn đề mà ông còn cho chúng tôi còn chống Cộng cực đoan thì xin thưa với ông Lê Hiếu Đằng rằng chúng tôi không phải như vậy mà chính các ông là những người thù những người thua trận chúng tôi. Trước tới giờ các ông vẫn lùng bắt những người nói lên chính kiến của mình. Nhà nước Cộng Sản không cho làm báo tư nhân. Ông nghĩ làm sao khi ông thành lập đảng đối lập với Đảng CS? Tôi nghĩ đây chỉ là đảng của các ông mà thôi, chẳng khác gì hơn. Vì Nhà nước của các ông lập được đảng thì chúng tôi cũng lập được đảng. Vì đó là quyền tự do của mỗi người”.
index-250.jpg
LG. Lê Hiếu Đằng mặc chiếc áo có hình lưỡi bò.
“Ông Lê Hiếu Đằng làm một lần hồi còn chính phủ VNCH thì ông ra sức chống phá và đạt được toại nguyện gia nhập Đảng CS. Bây giờ thì lại chống Đảng CS. Tôi nghĩ ông Lê Hiếu Đằng có thể gọi là người trí thức. Đầu tiên, ông đã đi sai đường và bây giờ ông quay đầu trở lại. Tôi nghĩ việc ông làm không ai tin tưởng nổi. Là trí thức thì mình phải biết chủ nghĩa đó như thế nào thì mình mới bỏ tâm bỏ sức phục vụ. Ông đã lầm lạc 1 lần rồi, bây giờ nếu là người có tư cách thì ông nên yên lặng là hơn để cho giới trẻ sinh sau năm 75 thành lập đảng hay đối trọng với CS thì tốt hơn”.

  Huỳnh Mai St.8872
{Người đưa tin }

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Giờ Đã Điểm! Toàn quốc hãy cùng hành động


Giờ Đã Điểm! Toàn quốc hãy cùng hành động


DIỄN ĐÀN CÔNG NHÂN


Bằng hành động, bằng thái độ, cộng đồng ngoại giao, chính trị quốc tế đang công khai tỏ ý bênh vực, hổ trợ cho cuộc đấu tranh đòi Tự Do - Công Lý hết sức chính đáng và đầy chính nghĩa của nhân dân Việt Nam ta. Sự hổ trợ của cộng đồng quốc tế đương nhiên phải dẫn đến sự can thiệp của Liên Hiệp Quốc.

Giúp kết thúc xung đột, chấm dứt chiến tranh, ngăn ngừa chiến tranh, tái lập hòa bình là những mục tiêu hoạt động của Liên Hiệp Quốc đã được ghi thành những điều khoản rõ rệt trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc

Suốt bao chục năm tranh đấu với biết bao cuộc biểu tình của người Việt ở Hoa Kỳ và nhiều nơi khác trên thế giới trước trụ sở Liên Hiệp Quốc, bao nhiêu hành động phản đối nhà nước cộng sản của dân chúng, đồng bào Việt Nam trong nước chống lại hành động thô bạo chà đạp nhân quyền của công chúng và biết bao đơn kêu cứu của đồng bào Việt Nam trong nước là nạn nhân của chế độ cộng sản với các cơ quan nhân quyền quốc tế...đã giúp Liên Hiệp quốc hiểu rõ bản chất tội phạm của nhà cầm quyền cộng sản VN.



Nhưng tất cả những kêu cứu trên đây của đồng bào Việt Nam trong nước cho đến giờ phút này chỉ là những hành động mang tính cá nhân, chưa đủ yếu tố pháp lý để cấu thành một động lực chính đáng đúng với luật pháp quốc tế để Liên Hiệp Quốc có thể công khai có hành động thực thi nhiệm vụ quốc tế của mình, Cơ Quan Liên Hiệp Quốc.

Để giải quyết tình trạng đen tối của người Việt Nam trong nước nói chung hiện nay, đồng bào Việt Nam trong nước cần phải có một tiếng nói chung kêu gọi Liên Hiệp Quốc vào Việt Nam. Chỉ trong điều kiện này Liên Hiệp Quốc mới có đủ điều kiện để chính thức can thiệp vào tình hình Việt Nam do bởi sự thúc đẩy chung của tình hình Việt Nam và cộng đồng quốc tế.

Nhân dân Việt Nam, đồng bào Việt Nam ta đang có thừa điều kiện để làm công việc này. Nội lực của nhân dân Việt Nam đang sẵn có, nhân dân, đồng bào Việt Nam khắp nước hãy vận dụng, tập trung sức mạnh nội lực của mình lại, nhanh chóng chừng nào, tốt chừng ấy.

Điều gì xãy ra khi một triệu người Việt Nam bao gồm đồng bào mọi thành phần xã hội, đồng bào mọi tôn giáo, sinh viên, học sinh, thanh niên, tưởi trẻ yêu nước Việt Nam đồng loạt xuống đường ở Hà Nội; đồng lúc, một triệu người khác xuống đường ở Sài Gòn để kêu gọi Liên Hiệp Quốc vào Việt Nam, làm sao những kẻ bán nước cầm đầu chế độ cộng sản thối nát, đang trong tình trạng hoảng loạn, dao động cùng cực hiện nay có đủ khả năng ngăn chận được đồng bào ta?

Khối đồng bào lao động ở các thành phố, đồng bào các vùng ngoại ô, các vùng nông thôn lân cận, đồng bào mọi tôn giáo hiện nay, cộng với lực lượng sinh viên, tuổi trẻ Việt Nam yêu nước toàn quốc tối thiểu phải có trên dưới hai mươi lăm triệu người, một lực lượng mạnh nhất xã hội. Lực chúng ta sẵn có, chỉ cần nhân dân ta mau chóng kết hợp nội lực của mình cho một mục tiêu chung, với ý chí quả quyết thực hiện cho bằng được quyết tâm của mình:

- KÊU GỌI LIÊN HIỆP QUỐC VÀO VIỆT NAM

Đúng như vậy, đồng bào Việt Nam ta khắp nơi trong nước phải kêu gọi cho được Liên Hiệp Quốc vào Việt Nam thì tình hình đàn áp, hổn loạn xã hội khắp nơi hiện nay, khát vọng Tự Do - Dân Chủ - Nhân Quyền, Độc Lập Quốc Gia, Toàn Vẹn lãnh thổ, khát vọng phát triển con người, đất nước Việt Nam mới được vĩnh viễn giải quyết, nhất quán trong một lần cho mai hậu.

Đồng bào mọi giới, đồng bào mọi tôn giáo, các bạn sinh viên ở tất cả các trường đại học trên toàn cõi Việt Nam, thanh niên, tuổi trẻ Việt Nam yêu nước trên toàn quốc:

- Hãy kêu gọi, thúc giục nhau hành động ngay từ hôm nay, nhân dân ta nhất định phải thành công trong mục tiêu tối hậu này.

- Hãy thức tỉnh đồng bào Việt Nam toàn quốc

- Hãy thức tỉnh mọi binh sĩ Việt Nam trên toàn quốc

- Mọi người Việt Nam trên toàn quốc hãy cùng nhau thức tỉnh đồng bào cả nước để cùng nhau đồng bào ta cả nước đứng dậy đồng loạt kêu gọi Liên Hiệp Quốc vào Việt Nam. Đây là con đường thực hiện Hòa Bình ngắn nhất cho toàn dân Việt Nam ta vào thời điểm thập tử nhất sinh này.

(Diễn Đàn Công Nhân)
 
      Huỳnh Mai St.8872
{ Chia sẻ truyền thông Internet }


Sư Đoàn 22 BB ở Chiến Trường Dakto-tân Cảnh, Kontum Hè 72

Tổng lược về chiến sử của Sư đoàn 22 Bộ binh:
Sinh Tồn chuyển

http://omphalos.com.au/vnchlogos/logo_sd22.jpg
BIỂU TƯỢNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM.
Sư đoàn 22 Bộ binh có danh hiệu nguyên thủy là Sư đoàn Khinh chiến số 4 được thành lập ngày 1/5/1955 với ba trung đoàn tiên khởi: trung đoàn Bộ binh 401 (gồm tiểu đoàn 73, 90, 91), trung đoàn Bộ binh số 402 (gồm 3 tiểu đoàn 1, 94 và 95), trung đoàn Bộ binh 403 (tiểu đoàn 31, 92, 93). Đến tháng 10/1955, Sư đoàn được cải danh thành Sư đoàn Khinh chiến số 14, các trung đoàn và tiểu đoàn cũng được cải danh như sau: trung đoàn Bộ binh số 401 cải danh thành trung đoàn Bộ binh số 40 (các tiểu đoàn: 90 cải danh thành 1/40, tiểu đoàn 91 thành 2/40, tiểu đoàn 73 thành 3/40); trung đoàn Bộ binh 402 cải danh thành trung đoàn Bộ binh số 41 (các tiểu đoàn: 91 thành 1/41, 95 đổi thành 2/41, tiểu đoàn 1 cải danh là 3/41); trung đoàn Bộ binh số 402 cải danh thành trung đoàn 42 (các tiểu đoàn :92 thành 1/42, 93 thành 2/42, tiểu đoàn 31 thành 3/42.


Đầu năm 1959, theo cải tổ của Bộ Tổng Tham Mưu, các sư đoàn Khinh chiến 12, 13, và 16 bị giải tán. Các sư đoàn 11, 14, 15 được thâu nhận một phần lớn quân số của các sư đoàn giải tán để cải tổ thành các sư đoàn Bộ binh. Theo đó, sư đoàn Khinh chiến số 14 được cải danh thành Sư đoàn 22 Bộ binh với ba trung đoàn cơ hữu cải danh: trung đoàn Bộ binh số 40, số 41, số 42 thành trung đoàn Bộ binh 40, 41, 42. Sau này, do tình hình chiến trường, Sư đoàn 22 Bộ binh có thêm trung đoàn thứ 4, đó là trung đoàn 47 Bộ binh. Từ năm 1970, khu vực trách nhiệm của Sư đoàn 22 Bộ binh bao gồm các tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn, Kontum, Pleiku.

* Sơ lược về quân vụ của 9 vị tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh:
Từ khi cải danh từ Sư đoàn Khinh chiến thành Sư đoàn Bộ binh, Sư đoàn 22BB đã được được chỉ huy bởi 9 vị tư lệnh qua 11 thời kỳ (có hai vị hai lần giữ chức vụ này). Tư lệnh thứ 1 sau khi cải danh: trung tá Trần Thanh Chiêu (1/4/1959 đến 2/9/1959; vào thời gian 1962-1963, trung tá Chiêu là Thanh tra Dân vệ đoàn (Nghĩa quân), ông chỉ được thăng đến đại tá, mất tích vào tháng 4/1972); tư lệnh thứ 2: trung tá Nguyễn Bảo Trị (từ 3/9/1959 đến 4/11/1963; được thăng đại tá trong thời gian giữ chức vụ tư lệnh Sư đoàn này; thăng chuẩn tướng vào cuối tháng 10/1964 khi giữ chức tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh, được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Quân đoàn 3 vào đầu tháng 10/1965, thăng thiếu tướng vào cuối tháng 10/1965; tháng 6/1966: tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị, sau đó giữ chức Tổng trưởng Thông tin Chiêu Hồi; thăng trung tướng vào cuối tháng 10/1967; chức vụ cuối cùng: chỉ huy trưởng trường Chỉ huy Tham mưu); tư lệnh thứ ba: đại tá Nguyễn Thanh Sằng (từ 5 tháng 11/1963 đến 4 tháng 2/1964, thăng chuẩn tướng vào cuối tháng 10/1964 khi đang phục vụ tại Vùng 1 chiến thuật; chức vụ cuối cùng: tư lệnh phó Hành quân Quân đoàn 4 (1972-1973), giải ngũ trước 30 tháng 4/1975.

Từ tháng 2/1964 đến tháng 4/1975, các đại tá và tướng lãnh sau đây đã chỉ huy Sư đoàn 22 Bộ binh: thiếu tướng Linh Quang Viên (từ 5 tháng 2/1964 đến 6/9/1964, rời Sư đoàn 22 Bộ binh, tướng Linh Quang Viên có thời gian giữ chức vụ tham mưu trưởng Liên quân từ 1965 đến 1966, thăng trung trướng vào cuối tháng 10/1967 và giữ chức Tổng trưởng Nội vụ trong nội các Nguyễn Văn Lộc, chức vụ cuối cùng: Chỉ huy trưởng Trường Hạ Sĩ quan Nha Trang, giải ngũ vào tháng 3/1974); đại tá Nguyễn Văn Hiếu (từ 7 tháng 9/1964 đến 23/10/1964; đại tá Hiếu trở lại làm tư lệnh Sư đoàn 22 BB vào tháng 6/1966 và thăng chuẩn tướng vào năm 1967, đến tháng 8/1969, giữ chức tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh, thăng thiếu tướng 1970, chức vụ cuối cùng: tư lệnh phó Quân đoàn 3, tử nạn vào hạ tuần tháng 4/1975);

Thứ 6: chuẩn tướng Nguyễn Xuân Thịnh (từ 24 tháng 10/1964 đến 1/3/1965, đại tá Thịnh được thăng cấp tướng khi vừa được bổ nhiệm giữ chức vụ tư lệnh Sư đoàn 22, thăng thiếu tướng tháng 6/1968 khi giữ chức tư lệnh Sư đoàn 25 BB, thăng trung tướng cuối năm 1971 và được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Pháo binh QL/VNCH vào đầu năm 1972); thứ 7: chuẩn tướng Nguyễn Thanh Sằng (giữ chức tư lệnh Sư đoàn 22BB lần thứ 2 từ 1/3/1965 đến 22/6/1966); thứ 8: chuẩn tướng Nguyễn Văn Hiếu (giữ chức tư lệnh lần thứ hai, từ 23/6/1966 đến 10/8/1969); thứ 9: Chuẩn tướng Lê Ngọc Triễn (từ 11 tháng 8/1969 đến cuối tháng 2/1972, thăng chuẩn tướng vào giữa năm 1970, đầu tháng 3/1972, được bổ nhiệm giữ chức tham mưu phó Hành quân bộ Tổng tham mưu); thứ 10: đại tá Lê Đức Đạt (từ 1 tháng 3/1972 đến ngày 24/4/1972; trước khi giữ chức tư lệnh thay thế tướng Triễn, đại tá Đạt là tư lệnh phó Sư đoàn này, được ghi nhận là mất tích khi Cộng quân tấn công Tân Cảnh); tư lệnh cuối cùng: chuẩn tướng Phan Đình Niệm (từ 28 tháng 4/1972 đến 30/4/1972), tướng Niệm được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh khi ông đang là đại tá, chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn, được thăng chuẩn tướng cuối tháng 10/1972; ông đã có một thời gian đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy trong Bộ binh: tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, tư lệnh phó Sư đoàn.

* Sư đoàn 22 Bộ binh tại mặt trận Tân Cảnh-Dakto mùa hè 1972:
Từ năm 1959 đến 1972, Sư đoàn 22 Bộ binh đã tham dự nhiều cuộc hành quân quy mô trong khu vực trách nhiệm, và đã lập nhiều chiến công, riêng trong cuộc chiến Mùa Hè 1972, Sư đoàn này đã trải qua một giai đoạn đầy bi tráng tại mặt trận Tân Cảnh-Dakto. Toàn cảnh về trận chiến này được ghi nhận tổng lược như sau, dựa theo tài liệu của cựu đại tá Trịnh Tiếu, nguyên trưởng phòng 2 Quân đoàn 2:

Trong tháng 3/1972, những tin tức tình báo ghi nhận về sự tăng cường lực lượng của Cộng quân ở khu vực Kontum đã làm cho trung tướng Ngô Du-Tư lệnh Quân đoàn 2 lo lắng. Dựa trên những báo cáo của Phòng 2 Quân đoàn và sau khi hội ý với cố vấn trưởng Quân đoàn là ông John P. Vann, trung tướng Ngô Du đã cho tái phối trí lực lượng để bảo vệ mặt Bắc Kontum. Theo đó, bộ tư lệnh Tiền Phương Sư đoàn 22 Bộ binh cùng trung đoàn 47, một thành phần Tiếp vận quan trọng của Sư đoàn từ bản doanh chính tại Bình Định di chuyển đến Tân Cảnh-Dakto. Tại cụm phòng tuyến này, bộ tư lệnh hành quân của Sư đoàn đặt chung với bộ chỉ huy Hành quân của Trung đoàn 42 Bộ binh đã hoạt động tại đây từ trước. Về lực lượng Thiết giáp, ngoài thiết đoàn cơ hửu, Sư đoàn 22 Bộ binh được Quân đoàn 2 tăng cường 1 chi đoàn của thiết đoàn 19 thuộc Lữ đoàn 2 Kỵ Binh.

Hỗ tương phòng thủ cùng với Sư đoàn 22 Bộ binh là lữ đoàn 2 Nhảy Dù do đại tá Trần Quốc Lịch chỉ huy. Lữ đoàn này phòng thủ các căn cứ Delta và Charlie ở dãy đồi phía Tây sông Polco. (Vào 4 giờ sáng ngày 3 tháng 4/1972, sư đoàn 320 CSBV đã tấn công cường tập căn cứ Delta, nhưng địch quân đã bị đẩy lùi. Tiếp đến ngày 14 tháng 4/1972, Cộng quân lại mở cuộc tấn công vào căn cứ Charlie, trung tá Nguyễn Đình Bảo, chỉ huy tiểu đoàn 11 Nhảy Dù phòng ngự căn cứ này đã bị tử thương do trúng một quả hỏa tiễn 122 ly. Chi tiết về hai trận tấn công này sẽ được trình bày trong bài viết về lữ đoàn 2 Nhảy Dù).
Ngày 20 tháng 4/1972, tình hình tại mặt trận Quảng Trị ở Quân khu 1 quá nặng, bộ Tổng tham mưu quyết định điều động lữ đoàn 2 Nhảy Dù tăng cường cho giới tuyến. Tướng 3 sao CSBV là Hoàng Minh Thảo, tư lệnh B3 (Cộng quân tại Cao nguyên) thấy lữ đoàn Nhảy Dù đã rút, nên đã cho tiến hành kế hoạch tấn công cấp tốc để “dứt điểm” Sư đoàn 22 Bộ binh. Lực lượng chính mà B 3 sử dụng để tấn công Sư đoàn 22 BB là sư đoàn 320 và sư đoàn 2 Sao Vàng với thành phần phụ lực là một lữ đoàn chiến xa. Các đơn vị Cộng quân đều có phân đội trang bị hỏa tiển Sagger (các sĩ quan tình báo chiến trường của VNCH gọi là AT 3), loại hỏa tiển chống chiến xa có tầm tác xạ hữu hiệu tối đa là 2 ngàn mét.

Từ ngày 20 đến 22/4/1972, các sư đoàn CSBV áp sát vòng đai Tân Cảnh. Trước tình hình mới, đại tá Trịnh Tiếu, trưởng phòng 2 Quân đoàn 2, sau khi đã khám phá đầy đủ các vị trí của địch đã xuất hiện, đã trình với trung tướng Ngô Du-tư lệnh Quân đoàn 2- xin tiến hành ngay kế hoạch tiêu diệt địch bằng B 52 mà trước đây tướng Du và cố vấn Paul Vann đã tính toán. Điều bất ngờ là ông Paul Vann đã từ chối đề nghị của Quân đoàn 2 sử dụng B 52 để “dọn sạch” đối phương, nguyên nhân là ông Paul Vann không muốn yểm trợ cho đại tá Lê Đức Đạt-tư lệnh Sư đoàn 22. Trước thái độ của ông Paul Vann, trung tướng Ngô Du tức giận la lớn: Ông Paul Vann, ông là bạn hay kẻ thù của tôi. Paul Vann làm thinh bỏ đi. Ông bay trực thăng xuống mặt trận Bắc Bình Định. Tư lệnh chiến trường này là đại tá Trần Hiếu Đức, trung đoàn trưởng trung đoàn 40/Sư đoàn 22 Bộ binh. Đại tá Đức chịu trách nhiệm chỉ huy toàn bộ lực lượng bộ chiến hoạt động trong ba quận Hoài Ân, Hoài Nhơn và Tam Quan.

Ngày 23 tháng 4/1972, một tiểu đoàn Bộ binh của Sư đoàn 22 đã giao tranh với địch tại một vị trí gần bộ Tư lệnh Hành quân của Sư đoàn. Cũng trong ngày này, Cộng quân pháo kích tới tấp vào Tân Cảnh bằng hỏa tiễn 122 ly. Lực lượng chiến xa bảo vệ bộ Tư lệnh lúc bấy giờ chỉ có 10 chiếc, được điều động dàn đội hình ngăn chận địch, đã bị hỏa tiễn Sagger của Cộng quân bắn cháy mất 8 chiếc, còn lại 2 chiếc thì bị đứt xích. Một sĩ quan cấp thiếu tá tên là Như cùng một cố vấn Hoa Kỳ là đại úy Kenneth Yonan, 23 tuổi, đã leo lên tháp nước cao tại căn cứ, sử dụng đại liên 12.7 ly để tấn công địch, cũng bị hỏa tiễn Sagger bắn, bồn nước nổ tung và cả hai sĩ quan Việt-Mỹ này chết tại chỗ.
Khoảng 10 giờ tối ngày 23 tháng 4/1972, quận Dakto cách Tân Cảnh 2 km về phía Bắc, quân trú phòng tại quận này quan sát thấy đèn của 11 chiến xa T 54 tiến về hướng quận. Ngay sau khi nhận được báo cáo của Sư đoàn 22 Bộ binh, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã điều động C 130 Spectre lên thả trái sáng. Trong khi đó, các chiến binh thuộc thành phần phòng ngự vòng đai bộ Tư lệnh Hành quân Sư đoàn, từ các hầm chiến đấu cá nhân, thấy 15 chiến xa T 54 khác của địch chạy về Tân Cảnh. Phi cơ C 130 Spectre tác xạ để ngăn chận chiến xa địch, nhưng không có hiệu quả vì loại phi cơ này không có đạn chống chiến xa. Tình hình chiến sự tại Tân Cảnh đã bước vào những giờ phút quyết định của cuộc chiến.
Sinh Tồn chuyển
Nguồn:  http://dalatngayve.blogspot.com/2013/09/su-oan-22-bb-o-chien-truong-dakto-tan.html
  
   Huỳnh Mai St.8872
{Sưu tầm qua Dà Lạt ngày về }