Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Bài thuốc quý khiến bệnh tiểu đường biến mất không còn tái phát

  Bài thuốc quý khiến bệnh tiểu đường biến mất không còn tái phát
( Nếu quả thật như vậy thì  đại phúc !-  Cảm ơn bạn tốt đã chuyển )
 

Bài thuốc quý khiến bệnh tiểu đường biến mất không còn tái phát

Uống đậu đen xanh lòng là một phương pháp đông y cổ truyền xuất xứ từ Trung Hoa. Bài thuốc này nằm trong tập sách “Lãnh trai y thoại” của Lục Đình Phổ đời nhà Thanh.

 
Đậu đen xanh lòng được coi là loại thuốc quý có tầm cỡ thần dược. Đây là một phương pháp thanh lọc cơ tạng tuy thô sơ, đơn giản nhưng lại có hiệu quả rất cao. Có thể chữa được các chứng bệnh và có những khả năng sau:
1. Thanh nhiệt, hoạt huyết, giảm đau, trị ốm vặt
2. Nhuận trường, trị táo bón, rối loạn.
3. Giải độc trong bộ ruột, tiêu thủy, làm mạnh gân khỏe cốt, không đau nhức các khớp xương, làm hết phong thấp và tê mỏi.
4. Bổ tim, gan, thận, làm mắt sáng, thính tai, đen tóc.
5. Tiêu trừ một số bệnh linh tinh thường xảy ra cho người cao tuổi.
6. Ổn định huyết áp, điều hòa lượng đường trong máu, tăng sức đề kháng, chống chỏi bệnh tật. Riêng đối với phụ nữ, uống đậu đen xanh lòng sẽ giúp cho sắc diện xanh xao được trở nên hồng hào, da dẻ sẽ được mịn màng, xinh đẹp hơn.
Trên cơ sở phát huy của 6 tác dụng trên: Bệnh tiểu đường tự nhiên biến mất, đường trong máu trở về mức thích nghi, ta nên uống liên tục từ bây giờ cho đến hết đời dù bệnh tiểu đường có muốn tái phát cũng không tài nào tái phát được, có nghĩa là suốt đời không bị bệnh tiểu đường nữa. Bệnh này thuộc loại bệnh nan y, y học thế giới không có thuốc để trị dứt bệnh, chỉ giải quyết cho qua cơn bệnh thôi, rồi cũng tái phát, và nếu có bệnh nặng sẽ không ưng loại thuốc nào hết, chính nó là cơ sở phát sinh ra nhiều bệnh quái ác đưa đến tử vong, các bạn chớ coi thường.
Dược liệu
Chỉ có một thứ duy nhất là đậu đen xanh lòng (Blackbeans with green kernel) , tức là một loại đậu nhỏ, vỏ ngoài thì đen nhưng trong ruột có màu xanh đậm hoặc lợt tùy theo giống (chứ không phải loại đậu đen có ruột màu trắng thông thường).
Chúng ta có thể ra chợ hoặc đến tiệm có bán các loại đậu, và bảo họ bán cho vài trăm gram đậu đen xanh lòng đủ để dùng cho một thời gian ngắn thôi, khi uống hết lại mua tiếp, vì sợ mua nhiều quá để lâu có thể bị hư hay bị mọt ăn... vì đây là loại còn sống, loại sấy hạn dùng 6 tháng không xài được. Để xác định có đúng là đậu đen xanh lòng hay không, ta cắt hoặc cắn bể một vài hột để xem ruột nó có xanh hay không.
Liều lượng
Buổi sáng trước khi ăn điểm tâm tối thiểu nửa tiếng đồng hồ, uống sống, nuốt trọng 49 hạt “đậu đen xanh lòng”, chọn lấy hạt to rửa, vớt bỏ những hạt nổi, bù lại hạt tốt cho đủ số lượng 49 hạt, uống nhiều nước chừng nào tốt chừng ấy và liên tục như vậy mỗi ngày, uống mãi rất có hiệu quả. Thật là đơn giản, rẻ tiền, dễ thực hiện, đúng là thực phẩm chức năng!
Trẻ em từ 3-10 tuổi, chỉ cần uống mỗi ngày 10 hạt thì mắt sẽ sáng, không đau mắt dù học nhiều cũng ít bị cận; tiêu hóa tốt, không táo bón; sức khỏe tốt, ít ốm đau.
Từ 11-16 tuổi, uống mỗi ngày 21 hạt.
Từ 17 tuổi trở lên, uống theo người lớn.
Công dụng
Khi đậu đen xanh lòng uống vào trong ruột sẽ nở ra và hút các độc tố ở trong ruột vào nó rồi đem các độc tố ấy theo phân ra ngoài. Đó là nguyên lý giải độc và trị bệnh của phương pháp uống đậu đen xanh lòng.

  Nguồn: https://mail.google.com/mail/u/0/?shva=1#inbox/1479548803187cde

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

Âm mưu phá bỏ di tích Sài Gòn của việt cộng





SÀI GÒN BỊ BỨC TỬ LẦN 2...!
Xin chia sẻ bài viết và hình ảnh lên Blog Mai Đây Hòa Bình. Ghi lại những giây phút cuối cùng: " Âm mưu phá bỏ di tích Sài Gòn của việt cộng " Gây chấn động tâm tư, cãm xúc của người Việt SÀI GÒN XƯA & NAY: tự hào Hòn Ngọc Viễn Đông của nền Dân chủ Tự Do/VNCH- Rất cảm ơn Vnch Vẫn Còn Đây


https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiF3qbUSmhj5AK7JeCdWRl7eor0VZuhkjJ95I1CCqW5bJJNjXSa1X4Np09TX1LS-kYQhl2kEXrkISRQs34SeB6HJvZVoxY0H4W-ufisB6QQXbpcjv4v2kDCwJRItyNkb7d3NnZL9ZHH32zr/s1600/18082011197_1(2).jpg
 Huỳnh Mai St.8872


Âm mưu phá bỏ di tích Sài Gòn của việt cộng

LTS: - Đây là 1 trong những âm mưu phá bỏ di tích Sài Gòn của chính quyền Cộng sản nhằm muốn người dân miền Nam quên đi về những hình ảnh "Hòn Ngọc Viễn Đông" của VNCH! Không lâu nữa, một bức tượng ông Hồ Chí Minh sẽ được đặt trên nền của cái đài phun nước đã tan hoang như hôm nay.
Đứng nhìn cảnh những hàng cây cổ thụ trước nhà hát thành phố bị đốn hạ, dọn dẹp lấy đất cho việc xây nhà ga tàu điện ngầm đang làm dư luận người dân thành phố Sài Gòn đắng lòng.
Ở một đất nước mà chính quyền độc tài tự cho phép mình muốn làm gì thì làm, bất cần hỏi, bất cần biết ý dân, việc thay đổi hay phá hỏng di sản cảnh quan, kiến trúc của một đô thị như Sài Gòn là thứ độc tài khinh dân.
Các công trình như Công viên Lam Sơn trước nhà hát thành phố, cây xanh hai bên công viên, đài phun nước ở giao lộ Lê Lợi - Nguyễn Huệ, vòng xoay Quách Thị Trang, tượng đài Trần Nguyên Hãn... sẽ lần lượt được di dời giải tỏa.
Chúng tôi có mặt ở khu vực trung tâm Sài Gòn tan tành này vào ngày thứ hai của việc phá dọn mặt bằng. Nhìn những gốc dương liễu có tuổi đời năm sáu chục năm quanh đài phun nước bị bứng. Một người đàn ông lớn tuổi, xúc động nói. "Hồi tôi còn nhỏ, mỗi khi ra Sài gòn là chạy quanh bồn nước này, mua bong bóng, kẹo, bánh, chụp ảnh gia đình... Hồi đó đã có mấy cây dương liễu này rồi, bây giờ thấy nó chết tươi, mà chú có hiểu chết tươi là chết ra sao mới biết đau lòng cỡ nào."
Trước và sau chúng tôi, những người đi đường dừng xe lấy điện thoại ghi lại những hình ảnh cuối cùng của đài phun nước, của hàng cây dầu cổ thụ. Điện thoại trong túi tôi cũng rung, tôi mở ra đọc được tin nhắn của một người bạn thân có nội dung: Sài Gòn đang bị xóa đó anh! Tôi hiểu người bạn này muốn nói gì.
Sau biến cố 1975, ai cũng biết Sài Gòn đã mất vị thế lịch sử thủ đô của một chính thể dân chủ - tự do VNCH, giá trị văn hóa-văn minh của một đô thị kế thừa và thượng tôn ý thức dân tộc. Từ đó đến nay, Sài Gòn mất tên, đường phố thay danh... Sài Gòn bị chế độ cộng sản hành hạ bằng những thay đổi cực đoan và ấu trĩ, nhưng dù khu trung tâm Sài Gòn bị khoác hình thức và nội dung tuyên truyền nào, thì ít ra tinh anh Sài Gòn vẫn may mắn không bị xóa trắng như lần này.
Một bà vừa đi mua sắm ở chợ Sài Gòn ra, nói. "Tại sao họ không xây ga điện ngầm ở khu công viên 23/9 cho dễ coi. Tui nghe nói họ dẹp luôn tượng Trần Nguyên Hãn, rồi tới đây phá luôn chợ Sài Gòn để làm siêu thị cao cấp. Vậy là kể như Sài Gòn chết hết rồi."
Dưới chính thể VNCH, để tôn vinh những anh hùng dân tộc, Sài Gòn đã có những tượng đài đạt tầm nghệ thuật rất cao như những tượng đài An Dương Vương, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ... Tượng Phan Đình Phùng ở bồn binh Cây Gõ đã bị lấy chỗ xây cầu vượt, và tới đây sẽ tiếp tục biến mất tượng Trần Nguyên Hãn.
Hẳn nhiên việc di dời hay xóa bỏ một tượng đài nào đó vì tuổi thọ công trình hay vì nhu cầu phát triển giao thông là điều không thể tránh khỏi, nhưng người Sài Gòn cảm thấy bị xúc phạm tình yêu nước và lòng kính trọng lịch sử dân tộc khi mà toàn bộ các công trình tượng đài mới được chế độ này xây chỉ để tôn vinh lãnh tụ và những anh hùng của chế độ Cộng Sản.
Chúng tôi tìm cách bắt chuyện với những người chứng kiến cảnh đốn hạ cây xanh khu trung tâm Sài Gòn. Họ đều buồn đến ngơ ngác! Với người Sài Gòn, cả cố cựu và người nhập cư đều cho là xâm phạm khu trung tâm trước nhà hát lớn để đào xới làm ga tàu điện ngầm là xâm phạm trái tim Sài Gòn và trái tim họ.
Ngay cả những người trẻ sinh sau năm 1975, vốn không mường tượng được thế nào là một Sài Gòn hòn ngọc viễn đông và không có xu hướng tưởng vọng về chính thể VNCH, một chính thể đã tạo ra một "Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi!" cũng không dấu thất vọng trước việc phá nát cảnh quan khu trung tâm.
Một bạn trẻ đang làm trưởng phòng Marketing của một công ty Nhật, hỏi tôi. "Hồi chế độ trước, có ông Tổng Thống hay Thủ Tướng nào xây cho mình tượng đài không chú?" Tôi trả lời anh là không có. Anh cười gật gù. "Cháu chẳng hiểu chế độ đó nhiều, nhưng nếu họ không xây tượng đài cho mình là tự trọng."
Và không cần ai gợi ý mà cũng không cần nói ra, người Sài Gòn đều biết số phận của các tượng đài lãnh tụ xứ cộng sản, lãnh tụ ở các nước độc tài sẽ ra sao.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=192193&zoneid=431#.U9VOmhJUqFF


Nguồn: https://www.facebook.com/vietnamCH/posts/811238955555482 

Khám và điều trị mắt cho thương phế binh VNCH


Khám và điều trị mắt cho quý ông thương phế binh VNCH

VRNs (01.08.2014) – Sài Gòn – Chương trình khám và điều trị mắt sẽ mở đầu cho các hoạt động chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế cho quý ông thuơng phế binh VNCH, sau hoạt động giao lưu và tri ân, đã diễn ra hồi tháng tư vừa qua.

Dòng Chúa Cứu Thế sẽ tổ chức khám và điều trị mắt cho quý ông thương phế binh, tại 38 Kỳ Đồng, quận 3, Sài Gòn như sau:

1. Thứ hai, ngày 11.08.2014 sẽ khám mắt, sau đó lên kế hoạch điều trị. Trường hợp bị cườm sẽ tiến hành mổ

2. Sau khi khám xong, mỗi ông sẽ nhận được giấy hẹn có ghi thời gian và nơi sẽ điều trị. Khi nhận được giấy này (trong ngày khám bệnh), các ông sắp xếp thời gian để đến đúng địa điểm và đúng giờ như giấy hẹn để tiến hành điều trị theo đúng chỉ định của bác sĩ khi khám.

3. Các ông sẽ được điều trị và mổ (nếu có) hoàn toàn miễn phí. Các ông chỉ lo chi phí đi lại, ăn ở mà thôi.

Để tham gia chương trình khám và điều trị mắt, xin quý ông thương phế binh gọi điện thoại đến một trong hai số điện thoại sau đây để ghi danh: 09366.877.80 và 0938.428.634 gặp cô Phượng hoặc nhân viên trực.

Thông tin cần khi ghi danh:
- Họ và tên
- năm sinh
- địa chỉ
- số điện thoại liên lạc
- số quân

Nếu chương trình này diễn ra tốt đẹp, chúng tôi sẽ tiến hành ngay chương trình khám bệnh tổng quát sau đó.

Xin quý ông thương phế binh ghi danh sớm, trước ngày 09.08.2014.

Xin Chúa Yêsu ban phúc lành cho quý ông.



Ban Tổ Chức

 Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=29891

Hai món quà Phạm Quang Nghị tặng John McCain


Hai món quà ông Phạm Quang Nghị tặng ông John McCain

Posted by adminbasam on 01/08/2014

Đôi lời: Đã tìm được dòng chữ ghi trong tấm bia của một trong hai bức ảnh mà ông Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị tặng Thượng nghị sĩ John McCain “NGÀY 26-10-1967 TẠI HỒ TRÚC BẠCH QUÂN VÀ DÂN THỦ ĐÔ HÀ NỘI BẮT SỐNG TÊN JOHN SNEY MA CAN THIẾU TÁ KHÔNG QUÂN MỸ LÁI CHIẾC MÁY BAY A4 BỊ BẮN RƠI TẠI NHÀ MÁY ĐIỆN YÊN PHỦ ĐÂY LÀ MỘT TRONG 10 CHIẾC MÁY BAY BỊ BẮN RƠI CÙNG NGÀY“. Như vậy là mục đích chuyến đi của ông Phạm Quang Nghị là để giúp Trung Quốc “chống Mỹ”, không phải kết thân với Mỹ chống bành trướng bá quyền Trung Quốc.

GS Nguyễn Văn Tuấn

01-07-2014



Đọc bài viết khá dài này (1), phải chú ý lắm mới biết món quà ông Phạm Quang Nghị tặng Thượng nghĩ sĩ John McCain là gì. Thì ra đó là hai bức hình: một hình chụp cái bia dựng bên hồ Trúc Bạch sau khi ông John McCain bị bắt tại đó vào năm 1967, và một hình ghi lại viên phi công đang giơ tay đầu hàng. Tôi không rõ viên phi công đó là ai, có phải là John McCain? Tôi tò mò tìm hiểu cái bia đó viết gì, thì thấy hơi sốc …

Tấm bia đó rất khó tìm, nhưng một bản chụp lại và post trên trang blog hoangsaparacels.blogspot.com. Tấm bia viết nguyên văn như sau (có chỗ không rõ nên tôi để trong […]).

“NGÀY 26 10 1967 TẠI HỒ TRÚC BẠCH QUÂN VÀ DÂN THỦ ĐÔ HÀ NỘI BẮT SỐNG TÊN JOHN SNEY MA CAN THIẾU TÁ KHÔNG QUÂN MỸ LÁI CHIẾC MÁY BAY A4 BỊ BẮN RƠI TẠI NHÀ MÁY ĐIỆN YÊN PHỦ […]”

Chú ý những chữ như “tên”, cũng may là không có hai chữ “giặc lái” phía sau! Tấm bia ngắn nhưng có ít nhất 2 thông tin sai một cách hiển nhiên. Tên ông John Sidney McCain bị viết sai là “JOHN SNEY MA CAN”. Ông ấy là sĩ quan hải quân, nhưng tấm bia ghi là thiếu tá không quân. Hèn gì khi đưa cho ông McCain tấm hình, ông ấy nói “tôi cảm thấy không thể hài lòng (người phiên dịch đã dùng một từ khá mạnh là “bị xúc phạm”). Ngài có biết không, tôi là thiếu tá hải quân chứ không phải là thiếu tá không quân. Tôi thuộc lực lượng không quân của hải quân. Các ngài đã ghi vào tấm bia này không đúng”.

Tôi nghĩ món quà (hay hai bức hình này) mà tặng cho John McCain là không thích hợp. Ông McCain bị bắn rơi và trở thành tù binh ở Hà Nội trong suốt 5 năm rưỡi. Đó là một thời gian tù đày dài, không bao giờ xoá nhoà trong kí ức của ông. Nó như một vết thương lòng của một người. Vậy mà, bẵng đi một thời gian dài khi hai nước đã có bang giao tương đối tốt, thì đột nhiên có người đem hai tấm hình đến làm quà để khơi dậy một thời nhục nhã.

Thử tượng tượng, người ta chụp hình tấm bia trong đó người ta đề cập đến mình một cách miệt thị (nhưng viết sai), và đem tặng cho mình. Nó chẳng khác gì cách nói: Tao chửi mày trên bia, và bây giờ tao tặng hình cái bia đó cho mày. Thật là một món quà không thích hợp.

Không biết ông McCain nghĩ gì khi nhận hai tấm hình, nhưng đối với nhiều người bình thường, thì món quà đó có thể xem là một sự hạ nhục người chủ nhà. Nếu hạ nhục là quá đáng, thì tasteless có thể là một chữ khác có thể dùng để mô tả hai bức hình. Có thể ông giả bộ cười cười nói nói, nhưng trong thâm tâm ông nhớ lại những gì ông viết trong thời gian tù binh. Ông có kể lại thời gian bị cầm tù, thẩm vấn (không thấy kể có bị tra tấn hay không) trong Hoả Lò [2].

Đọc câu chuyện thẩm tra của ông chúng ta thấy rất giống những câu chuyện của các tù binh VNCH bị giam cầm trong các trại cải tạo trước đây, và cũng tương tự như những câu chuyện của những người bị giam cầm ngày nay. Trong câu chuyện, Ông McCain không hề dấu diếm rằng ông xem thường trình độ của họ, tỏ ra rất khinh bỉ những người thẩm vấn ông, và ông gọi họ là The Cat (mèo), The Rabbit (thỏ), thậm chí nặng nề hơn là “gook”, v.v. [2].

Trước đây, Nhà văn Phạm Thị Hoài có nhận xét rằng các món quà ngoại giao của các lãnh đạo VN thường rất nhàm chán, và chỉ xoay quanh những món như tranh Hồ Chí Minh, chùa Một Cột, và Tháp Rùa [3]. Nhà văn mỉa mai gọi là “Ngoại giao Tháp Rùa”. Ngày hôm nay, các lãnh đạo VN đã có cố gắng đổi mới quà cáp, nhưng khổ nỗi, lần đổi mới áp dụng cho ông John McCain theo tôi là một sơ suất đáng tiếc. Ông John McCain là người thẳng thắn, ông từng nói trước một cử toạ ở Sài Gòn rằng “wrong guys […] had won the Vietnam War”, biết đâu lần này ông nghĩ trong đầu “the right guy has given a wrong present”.
—-
(1) http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/189997/mon-qua-ong-pham-quang-nghi-tang-tns-mccain.html. Bài dài, có nhiều đoạn biện minh rất buồn cười, và mang tính nịnh hót lãnh đạo.
(2) http://www.usnews.com/news/articles/2008/01/28/john-mccain-prisoner-of-war-a-first-person-account. Có đoạn ông gọi hai người thẩm vấn là Con Mèo (The Cat) còn người kia là Con Thỏ (The Rabbit). Ông mô tả những người thẩm vấn này ngu xuẩn (They took me up into one of the interrogation rooms, and for the next 12 hours we wrote and rewrote. The North Vietnamese interrogator, who was pretty stupid, wrote the final confession, and I signed it. It was in their language, and spoke about black crimes, and other generalities.)

(3) http://www.procontra.asia/?p=1522
Nguồn: FB Nguyen Tuan
Nguồn ảnh: hoangsaparacels.blogspot.com

Nguồn:  http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=29886

BỨC ẢNH LỊCH SỬ ĐỂ ĐỜI LƯU HẬU THẾ: TT NGÔ ĐÌNH DIỆM


Xem bức ảnh độc đáo này .
 
 
 
May-1956
South Vietnam's President Ngo Dinh Diem sleeping under the trees during his trip to visit refugee settlements
 
Một tấm ảnh thôi đủ nói lên tất cả.
Thành kính tưởng nhớ, tiếc thương một vị lãnh tụ Anh Minh, Yêu Nước, Liêm Chính như cố Tổng Thống cuả Việt Nam đệ nhất Cộng Hoà.
Hãy nhìn đôi giày cuả ông mà đau lòng ! 
 
BỨC ẢNH LỊCH SỬ ĐỂ ĐỜI LƯU HẬU THẾ!
 
Hãy xem cuộc sống thanh đạm của Ngô Tổng Thống khi đi kinh lý thăm dân. Vị lãnh đạo quốc gia VNCH nghỉ giấc trưa trên một tấm phên tre đổ nát. Ai nhìn thấy cũng rưng rưng nước mắt..  

Pham Chuan

VASA Charlotte
1339 Baxter Street
Charlotte, NC 28204
Tel: 704 332 8273
Cel 704 502 7184
 
 Nguồn:  https://mail.google.com/mail/u/0/?shva=1#inbox/1478b0da13110781

Chuyến xe buýt và khúc hát người lính mù - Nguyễn Mạnh Trinh

 
Sài gòn, năm 1980. Lúc đó, cuộc “cách“ cái ”mạng” ngày 30 tháng tư đã năm năm. Nhưng xem ra không khí chiến tranh vẫn còn bao phủ. Đời sống càng ngày càng đi vào bế tắc. Hè đường đầy những người đi kinh tề mới trở về hoặc vượt biên mất nhà sinh sống. Họ trở thành những người không nhà không hộ khẩu sống lây lất trong một thành phố đầy đe dọa. 


Những trại giam đầy áp người tù, tù chính trị và tù hình sự. Đêm đêm là thời gian của kiểm tra hộ khẩu, của bắt người, của đe dọa chập chờn ngoài cánh cửa. Với người dân thường còn như vậy. Huống chi những người tù bị gọi là “cải tạo” trở về. Đời sống lại càng bị đe dọa hơn biết bao nhiều. Tôi cũng bị ảnh hưởng trong thời thế ấy. Sống bất hợp pháp trong nhà của mình và trong đầu óc lúc nào cũng chờ đợi một chuyến vượt biển ra đi. Cột đèn mà cũng muốn xuất ngoại, huống chi…

Lúc ấy, phương tiện giao thông đi lại hầu như chỉ có xe buýt ở trong thành phố và xe đò đi xa ngoài thành phố. Ở bến xe, sinh hoạt thật nhộn nhịp. Như ở Xa Cảng Miền Tây lúc nào cũng đầy người mà số đông là những người chờ đợi một chuyến xe. Có người phải ngủ đêm chầu chực nhiều ngày. Nhưng nếu có tiền mua vé chợ đen, thì được đi ngay. Bao nhiêu con buôn đi hàng ngày mà còn chở theo hàng hóa cồng kềnh mà đâu có chờ đợi gì đâu. Còn xe buýt, thì là chỗ hỗn tạp. Đi xe luôn phải coi chừng, ăn cắp móc túi như ranh. Chỉ một loáng thôi, dù đã giữ gìn nhưng bị mất mát ngay một cách nhãn tiền. Thời mạt pháp, ai có thân thì giữ...

Trên một chuyến xe, có hai người lính cũ, một mù một què, dắt díu nhau đi hát để kiếm miếng ăn độ nhật. Người què thì dẫn đường cho người mù không có mắt để đi lần theo từng hàng ghế. Họ mặc bộ quần áo trận đã rách te tua bạc phếch nhưng vẫn còn phảng phất đâu đó hình ảnh của người lính thời xưa. Trên tay người lính mù là chiếc dàn mandoline cũ kỹ và anh hát những bản nhạc lính của cuộc chiến ngày cũ đã tàn nhưng còn nhiều hậu quả nhức nhối. Những bản nhạc đã vinh danh những anh hùng như “Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc“ hoặc ”Người Ở Lại Charlie”. Khi hát tôi thấy dường như trong đôi mắt đen đục của người lính mù có chút nước mắt. Đi lần qua những hàng ghế, cũng có những người cho tiền, mặc dù họ không phải là những người khá giả trong xã hội này. Và nếu có một vài chú bộ đội phê bình nào là nhạc phản động, nào là nhạc vàng bị cấm thì họ lại bào chữa bảo vệ ”Người ta tàn tật đi kiếm ăn mà còn làm khó!”...

Trong không khí đe dọa, họ vẫn cất tiếng hát. Hình như, họ đang chiến đấu với tiếng hát của mình. Cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…Hay : Anh không chết đâu anh người anh hùng mũ đỏ tên Đương… Hay Anh Quốc ơi từ nay trong gió ra khơi từ nay trên cánh mây trôi có hồn anh trong cõi lòng tôi. Ơi những tiếng hát nhắc lại một thời binh lửa mà những người bây giờ đang hát đã hiến dâng cho đất nước những phần thân thể của mình. Tự nhiên, tôi cảm thấy mình xúc động quá. Những người lính thời trước chịu bao nhiêu điều thua thiệt mà bây giờ vẫn còn cất tiếng hát bất chấp đe dọa bất chấp công an để vẳng lên tâm sự của mình. Và qua từng chuyến xe này qua chuyến xe khác, họ vẫn hát dù có khi bị bò vàng bắt hoặc đánh chửi. Những lời hát vẫn cất lên, mặc kệ bạo lực mặc kệ ngục tù.

Có một bài thơ, đã được viết từ cảm xúc đó. Bài thơ ”Chuyến xe bus và khúc hát người lính mù”

Trang lịch sử đã dầy thêm lớp bụi
Ngăn kéo đời vùi kín mộ phần riêng
Và lãnh đạm chẳng còn người nhắc đến
Người trở về từ cuộc chiến lãng quên
Đôi mắt đục nhìn mỏi mòn kiếp khác
Đắt dìu nhau khập khiễng chuyến xe đời
Người thua trận phần thịt xương bỏ lại
Trên ruộng đồng sầu quê mẹ rã rời
Chuyến xe vang lời ca nào năm cũ
Nhắc chặng đường binh lửa lúc xa xưa
Khói mịt mù đường chiến tranh bụi phủ
Nghe bàng hoàng giọt nắng hắt giữa trưa
Tiếng thê thiết gọi địa danh quen thuộc
Thưở dọc ngang mê mải ngọn cờ bay
Cuộc thánh chiến gió muộn phiền thổi ngược
Dấu giầy buồn còn vết giữa sình lầy
Ôi tiếng hát nhớ những người gục ngã
Ngồi chuyến xe sao vang vọng nỗi niềm
Âm thanh cao xoáy tròn tim gỗ đá
Thúc hồn người theo nhịp thở chưa quên
Ôi tiếng hát vinh danh đời lính chiến
Cho máu xương không uổng phí ngày mai
Có sương khói trong mắt đời cầu nguyện
Để lỡ làng không chĩu nặng bờ vai
Người thản nhiên những tia nhìn cú vọ
Đây tàn hơi còn sót lại một đời
Đây ngôn ngữ của Việt Nam đổ vỡ
Vẳng không gian chợt héo một nụ cười
Ta nghe rực cuối hồn trăm bó đuốc
Một đời hoài tìm kiếm ánh đèn soi...”

Bài thơ đó tôi viết ở Sài Gòn năm 1980. Bây giờ năm 2010, như vậy đã ba chục năm. Tôi đã rời thành phố thân yêu và cũng đã định cư ở Hoa Kỳ 30 năm. Hôm nay ngồi đọc tin về Đại Nhạc Hội tổ chức ở ngoài trời “Cám Ơn Anh” để gây quỹ cứu giúp thương phế binh của QLVNCH còn kẹt lại ở quê nhà bỗng dưngsinh ra nhiều hồi tưởng. Bài thơ dắt tôi trở về những ngày tháng năm năm 1975, khi Cộng sản đã chiếm được đất nước đã thẳng tay dã man đuổi tất cả thương bệnh binh trong quân y viện ra ngoài bất kể tình trạng nguy hiểm hay không. Nạn nhân nặng nề nhất ngay lập tức chịu ảnh hưởng thua trận chính là những người thương binh. Biết bao nhiêu là thảm cảnh xảy ra. Không hiểu họ đã xoay sở thế nào để sống còn trong hoàn cảnh cực kỳ bi đát ấy.

Chính Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn 4, trước khi quyết định tự sát đã đến thăm thương binh ở quân y viện Cần Thơ lần cuối vì ông biết số phận đáng thương của những người lính này. Trước khi tử tiết, ông đã đến từng giường bệnh để an ủi những người lính đang điều trị tại đây. Ông đã não lòng khi trả lời một câu nói của người lính đang nằm viện : ”Thiếu Tướng đừng bỏ chúng em !”. “Không, Thiếu Tướng không bỏ đâu”. Phải, mặc dù đã đến lúc cờ tàn, ông không còn giúp đỡ gì được những anh hùng nhưng là nạn nhân của cuộc chiến nhưng tấm lòng nhân hậu của ông đã là gương sáng cho đời sau.

Gần đây tôi có đọc một lá thư của một người lính bị tàn phế gửi cho một người bạn từ Việt Nam. Bức thư có nhiều đoạn làm tôi suy nghĩ:

“… Các anh ạ! Bây giờ thì buồn quá! Các anh - những sĩ quan QLVNCH, những người anh của chúng tôi, những Đại Bàng, những Bắc Đẩu, Hắc Báo của ngày nào một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường... các anh đã có một thời quang vinh và một thời nhục nhã, giờ đây sau 30 năm vẫn lặng lẽ, các anh cũng nhòa đi hình ảnh của ngày xưa?

Các anh đã quên rồi sao? Quên rồi những chiến sĩ thuộc quyền của các anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất mẹ thiêng liêng quên những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ. Xin cảm ơn các anh về những đồng đô la mà các anh gửi về cho chúng tôi trong chương trình giúp đỡ thương phế binh QLVNCH. Những đồng tiền đó dù có giúp cho chúng tôi trong một thời gian ngắn, dù có an ủi cho những đớn đau vật chất được đôi phần nhưng cũng không làm sao giúp chúng tôi quên nỗi nhục nhã mất nước! Chúng tôi cần ở các anh những chuyện khác, các anh có thấu hiểu cho chúng tôi hay không? Tôi đã hiểu vì sao thằng khuân vác ở xóm trên, thằng vá xe đạp ở đầu đường, thằng chống nạng đi bán vé số ở cạnh nhà lại ghét cay ghét đắng đám Việt kiều. Họ là những người lính năm xưa, họ đã từng tuân lệnh những Đại Bàng, Thần Hổ xông pha nơi trận mạc. Họ đã từng chắt chiu từng đồng bạc nghĩa tình chung thủy gửi vào tận chốn tù đày thăm các anh. Họ đã từng uống với các anh chung rượu ân tình ngày đưa các anh lên phi cơ về vùng đất mới. Họ từng nuôi nấng một hoài vọng, một kỳ vọng ngày về vinh quang của QLVNCH.

Nhưng chính các anh đã làm họ oán ghét đến độ khinh bỉ khi các anh áo gấm về làng, chễnh chệ ngồi giữa nhà hàng khách sạn năm sao tung tiền ra để tỏ rõ một Việt Kiều yêu nước. Các anh có biết không? Từ trong sâu thẳm của cuộc đời, những người lính VNCH đang lê lết ở ngoài cửa nhà hàng mà các anh đang ăn uống vui chơi, đang nhìn các anh với ánh mắt hận thù. Hận thù lớn nhất của người lính là sự bội bạc, là sự phản bội! Không biết khi tôi kết tội các anh là phản bội có quá đáng hay không, nhưng các anh hãy tự suy nghĩ một chút sẽ thấy rõ hơn chúng tôi. Tôi không tin là tất cả các anh đã biến thái thành những tên Việt gian nhưng sự trở về như các anh trong hiện tại là đồng nghĩa với sự phản bội. Các Anh đã phản bội lại Tổ Quốc và rõ ràng nhất các anh đã phản bội lại chúng tôi…”

Đọc lá thư ấy, lòng tôi như chùng xuống. Mỗi một người đếu có hoàn cảnh cũng như cách chọn lựa riêng nhưng tôi không ngờ rằng trong sâu thẳm của những người lính cũ còn có những nỗi niềm như thế. Sự phân cách quá sâu đậm, những con sông chia cách vẫn chưa thể lấp bằng được. Ngẫm suy lại, từ một khía cạnh nhìn ngắm khác nhau, đã có những khác biệt cho từng hành động…

Tới bây giờ, với những người ở hải ngoại đã không quên các anh, những thương phế binh VNCH. Dù có một số ít vô ý thức trở về nước vui chơi trên nỗi nhọc nhằn của dân tộc nhưng phần đông đều hiểu và tri ân những người lính đã mang xương máu và thân thễ hiến dâng cho đất nước. Ở đại nhạc hôi “Cám Ơn Anh”, hàng chục ngàn khán gỉa đi xem không phải chỉ là đơn thuần mua vui mà là biểu lộ tinh thần biết ơn đối với người lính VNCH. Dù số tiền thu được lên tới cả triệu đô-la nhưng cũng không đủ cho nhu cầu của hàng chục ngàn người lính tàn phế cần giúp đỡ. Nhưng của ít tình nhiều, điều đó mới là đáng quý. Cũng như, với sự tham dự của cả hơn một trăm ca nhạc nghệ sỹ, cùng với cả trăm người thiện nguyện bỏ công sức và cả tiền của cá nhân, thì đó phải hiểu là một thành quả to lớn ở hải ngoại của những người dân luôn luôn tương trợ giúp đỡ nhau. Cám ơn anh! Những thương phế binh đã hiến dâng đời mình cho đất nước…

Nguyễn Mạnh Trinh

"NGÀY MAI ĐI NHẬN XÁC CHỒNG ..."

Xin được chia sẻ bài viết, trên Blog mai Đây Hòa Bình,..để lưu lại dấu ấn một thời chiến tranh- Hành quân Lam Sơn 719- Nam Hạ Lào.
http://maidayhoabnh.blogspot.com/.../hanh-quan-lam-son...
Đơn vị tiền tiêu - Sư Đoàn 22BB đóng trên đỉnh núi Hàm Rồng. Chúng tôi hay vào thành phố Pleiku được mênh danh là " Thành Phố Mây Bay " mỗi khi hành quân về, hay ghé thăm các thương binh và chiến sĩ chết trận chuyển về Pleiku. Nhưng không biết là nhà thơ Lê Thị Ý: Tác giả "NGÀY MAI ĐI NHẬN XÁC CHỒNG ..." cùng có măt và chứng kiến chia sẻ những đau thương bất hạnh của cá bà vợ trẻ đi nhận xác chồng...
“Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Say đi cho rõ người tình
Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ "

Pleiku- Thành phố mây bay hay Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ...!!!
 
Huỳnh Mai St.8872

Ảnh của Mai Nguyễn Huỳnh. 
   









 
TIỂU ĐOÀN 50 CHIẾN TRANH CHÁNH TRỊ - THỜI @


Thơ: Lê Thị Ý


Nhạc: Phạm Duy
 


Khanh Viet Nguyen
2 giờ qua iOS



Trò chuyện với Lê Thị Ý: Tác giả "NGÀY MAI ĐI NHẬN XÁC CHỒNG ..."
Thực hiện: Ðinh Quang Anh Thái/Người Việt


Nhà thơ Lê Thị Ý. (Hình: trích từ tác phẩm Tuyển tập thơ-văn
“Quê Hương và Kỷ Niệm”)

Đầu thập niên 70, trong bối cảnh chiến tranh lên cao điểm, ca khúc “Tưởng Như Còn Người Yêu” do Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của Lê Thị Ý gây xúc động lớn lao cho người nghe.

Nhà thơ Lê thị Ý xuất thân trong một gia đình văn nghệ. Người anh lớn là nhà thơ Vương Ðức Lệ, người chị lớn là nhà văn Phượng Kiều và cô em gái là nhà văn Lê Thị Nhị.

Lê Thị Ý làm thơ rất sớm, từ lúc còn học trung học và viết đều hơn khi theo gia đình vào Nam năm 1954.

Nhân dịp từ Virginia đến California ra mắt tác phẩm mới tại phòng sinh hoạt Lê Ðình Ðiểu của nhật báo Người Việt, bà đã dành cho biên tập viên Ðinh Quang Anh Thái cuộc nói chuyện thân mật sau đây.

-ÐQAThái: Tình khúc “Tưởng Như Còn Người Yêu”, thơ của bà, Phạm Duy phổ nhạc; tựa đề khởi thủy của bài thơ là gì ạ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Lúc bấy giờ vào năm 1970, tôi viết 10 bài thơ trong tập thơ “Mười Bài Thương Ca”; bài mà Phạm Duy phổ thành ca khúc là “Thương Ca 1”.

-ÐQAThái: Phải chăng chính bà là người góa phụ đi nhận xác chồng trong bài thơ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: (cười thoải mái) Không. Cho tới bây giờ tôi vẫn độc thân.

-ÐQAThái: Vậy, bà lấy cảm xúc từ đâu để viết nên bài thơ bất hủ này?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku. Thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep; hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình.

-ÐQAThái: Bài “Thương Ca 1”, Phạm Duy phổ nhạc, ngay khi được phổ biến, đã chiếm tâm hồn người nghe. Nhưng cũng có người lên án bài này “phản chiến”; bà nghĩ sao ạ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Khi tôi làm thơ, tôi xúc cảm thế nào thì tôi viết ra như thế. Thế thôi. Tôi không nghĩ gì khác cả. Bài thơ được phổ biến cũng là một sự ngẫu nhiên.

Một người bạn của anh Vương Ðức Lệ tôi đến nhà chơi, thấy bài thơ bèn đưa cho cụ Nguyễn Ðức Quỳnh - người trụ trì sinh hoạt “Ðàm Trường Viễn Kiến” ở nhà cụ tại Sài Gòn quy tụ rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức, nhà văn, nhà báo - Cụ Quỳnh đọc, thấy hay bèn đưa cho ông Phạm Duy phổ nhạc. Cho nên, bài thơ của tôi được mọi người thương hoặc cho là phản chiến thì cũng là việc tình cờ thôi, may mắn thôi, chứ tôi không chủ ý trước việc phổ biến bài thơ.

-ÐQAThái: Khi phổ thành ca khúc, hình như Phạm Duy có sửa vài lời trong bài thơ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Ðúng vậy. Có lẽ ông Phạm Duy sửa vài chữ cho nó hòa hợp với âm điệu bài nhạc hơn. Có câu ông Phạm Duy cắt bớt. Thí dụ câu tôi viết, “Chiếc quan tài phủ cờ màu, hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng” thì Phạm Duy sửa thành “Bây giờ anh phủ mầu cờ” và cắt đi câu thơ kế tiếp.

-ÐQAThái: “Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng”, tại sao lại phũ phàng ạ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Khi đau đớn thì cái gì cũng phũ phàng cả. Phũ phàng là hình ảnh đau đớn, quằn quại.

-ÐQAThái: Khi nhạc sĩ Phạm Duy đổi chữ và cắt bớt câu thơ như vậy, là tác giả, bà có thấy mất đi nguyên ý khi cảm xúc sáng tác không?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi không nghĩ gì và cũng không thắc mắc, không để ý chuyện đó, vì khi tôi làm thơ, tôi theo vần điệu của thơ, còn ông Phạm Duy làm nhạc thì ông cảm hứng theo nốt nhạc.

-ÐQAThái: Hỏi câu này bà thứ lỗi cho, bà có người yêu là lính không?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: (ngập ngừng..., cười) Chắc cũng phải có chứ ạ!

-ÐQAThái: Bài thơ “Thương Ca 1” do bà sáng tác và Phạm Duy phổ nhạc, đã từ lâu trở thành của quần chúng. Nghĩa là, người ta hát say sưa mà không còn nhớ tới tên tác giả. Nếu tình cờ, ở một nơi chốn nào đó, bỗng nhiên nghe có người hát, có người nói tới bài thơ này, tâm trạng của bà sẽ ra sao?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi vui chứ ạ. Vì tôi thấy tôi may mắn có người biết đến thơ của mình; mà thực sự khi làm thơ, tôi làm vì tôi thấy cần làm thôi, chứ không mang ước vọng có con mắt nào đó để ý đến thơ mình (cười).

-ÐQAThái: Bà có thể đọc cho nghe nguyên văn bài “Thương Ca 1”.

-Nhà thơ Lê Thị Ý:

“Ngày mai đi nhận xác chồng "

Say đi để thấy mình không là mình

Say đi cho rõ người tình

Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ

Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ

Như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son

Tình ta không thể vuông tròn

Say đi mà tưởng như còn người yêu

Phi cơ đáp xuống một chiều

Khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa

Dài hơi hát khúc thương ca

Thân côi khép kín trong tà áo đen

Chao ơi thèm nụ hôn quen

Ðêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau

Chiếc quan tài phủ cờ màu

Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng

Em không thấy được xác chàng

Ai thêm lon giữa hai hàng nến trong?

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng

Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.”

-ÐQAThái: Nếu dùng thơ để kết thúc cuộc phỏng vấn này, bà sẽ chọn những câu thơ nào?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi muốn dùng hai câu thơ cuối của bài “Thương Ca 1” là “Mùi hương cứ tưởng hơi chồng, nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai”, để nói lên tâm trạng người góa phụ trong chiến tranh, trong nỗi đau tận cùng, cảm xúc như mình vẫn còn người mình yêu.

-ÐQAThái: Cám ơn bà đã nhắc nhớ lại một bài thơ bất hủ nói lên nỗi đau của con người và đất nước Việt Nam thời còn chinh chiến.

* Mẹ của thi sĩ Lê Thị Ý là em ruột của nhà văn hoá Phạm Quỳnh.

Ông Phạm Quỳnh bị VC giết cùng với ông Ngô Đình Khôi (anh ruột TT Diệm,) và con trai là Ngô Đình Quân cùng bị giết.

-~-~-~-~-~-~-~-~-~-~-~-~-~-~-
Nguồn: https://www.facebook.com/khanh.v.nguyen.50/posts/10201371514408420:1