Thứ Hai, 28 tháng 4, 2014

Nhìn lại lần nữa hậu quả của ngày 30-4-1975


Nhìn lại lần nữa hậu quả của ngày 30-4-1975

Hồng Trung, gửi RFA từ VN
2014-04-27

Bộ đội Bắc Việt tiến vào Sài Gòn ngày 30 tháng Tư, 1975
Bộ đội Bắc Việt tiến vào Sài Gòn ngày 30 tháng Tư, 1975 Files photos 
30-4-1975 ghi dấu ngày chấm dứt cuộc nội chiến vũ trang, huynh đệ tương tàn của hai miền Nam - Bắc sau hơn 20 năm chia cắt bởi hiệp định Giơ-Ne-Vơ 1954. Nhưng thời điểm này cũng là một trang lịch sử tang thương đau buồn và mất mát chung cho cả dân tộc Việt Nam.

Triệu người vui, triệu kẻ buồn

Khi ông Lê Duẩn đã nói: “Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc.” thì rõ ràng danh nghĩa phát động chiến tranh giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước chỉ là phụ, mà mục đích chính là để thỏa vọng quốc tế hóa CS thế giới của Liên Xô, Trung Cộng. Hậu quả là dân tộc đã phải trả giá cho cuộc chiến tranh bằng xương máu của hơn 3 triệu sinh linh và sự tàn phá của bom đạn trên đất mẹ.
Như lời của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt nói về ngày 30-4-75: “là ngày có triệu người vui, triệu kẻ buồn”. Bên Cộng sản Miền Bắc vui vì thắng cuộc, thống lĩnh sự cai trị và được thu lợi những khối tài sản vật chất từ nền văn minh tư bản của chế độ VNCH. Bên Quốc gia ở Miền Nam buồn vì thua cuộc, phải chịu chính sách hà khắc của chế độ mới dưới các mỹ từ "cải tạo, chính sách kinh tế mới, cải tạo công thương nghiệp, quốc hữu hóa. .." khiến bao nhiêu người không chịu nổi phải tìm đường vượt biên, liều mình trên biển, bỏ xứ ra đi bằng sự đánh đổi mạng sống với tỷ lệ sinh tồn rất thấp.
Ba mươi chín năm trôi qua, cứ mỗi tháng tư về là báo chí truyền thông lề phải trong nước được chỉ đạo ca ngợi tiếp tục sự tài tình của Đảng CS trong chiến dịch HCM giải phóng miền Nam song trong thực tế, chữ "giải phóng" đó có quá nhiều mâu thuẫn và cay đắng.
Xin trích lời thơ của anh Trần Trung Đạo viết tặng em gái tù nhân chính trị Đỗ Thị Minh Hạnh:
“Bom đạn đã thôi rơi nhưng tiếng khóc vẫn không ngừng,
Câu hát hòa bình nhưng nước mắt vẫn cứ rưng rưng.”
Chiến tranh vũ trang đã chấm dứt nhưng hòa bình vẫn chưa thực sự trọn vẹn. Vẫn còn đó một mặt trận tranh đấu giằng co quyết liệt từng ngày của những con người đi đòi công lý, nhân quyền, tự do dân chủ. Vẫn còn đó trên khắp ba miền Trung – Nam- Bắc phong trào đấu tranh của những người nông dân biểu tình, khiếu kiện tập thể đòi đất. Và vẫn còn đó những làn sóng bất mãn của giáo dân, tín hữu, đạo hữu của các hội đoàn tôn giáo đòi quyền tự do tôn giáo tín ngưỡng. Nhà nước CSVN đã dùng vũ lực để trấn áp và qui kết bỏ tù rất nhiều người trong thời gian qua: bằng chứng sống động của sự bất ổn chính trị đương thời. Nhưng công cụ bạo lực của bất cứ nhà cầm quyền nào cũng chỉ là biện pháp trấn áp, đè nén người dân tạm thời chứ không phải là giải pháp chính trị ưu việt để tháo gỡ các bế tắc to lớn của một đất nước.
DSC00315-250.jpg
Băng rôn cho ngày 30 tháng 4 và 1 tháng 5 tại Hà Nội. RFA photo
Ba mươi chín năm là khoảng thời gian dài đủ để Việt Nam có thể tái thiết, khôi phục đất nước, phát triển phồn vinh ngang hàng với các nước Nam Hàn, Thái Lan, Đài Loan, Singapore sau chiến tranh. Nhưng dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN, đất nước vẫn trong tình trạng chậm tiến, suy thoái kinh tế mặc dù đã vắt cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nhà nước cũng đã thâm lạm, lãng phí vô số viện trợ nhân đạo, kinh tế của nước ngoài, chưa kể mấy trăm tỷ đô la kiều hối từ cộng đồng người Việt ở ngoài nước gửi về nước trong bốn thập niên qua.
Sự tham nhũng, lãng phí trong đầu tư công vẫn tung hoành gây nhức nhối cho toàn xã hội, làm nóng trên diễn đàn Quốc hội và căn bệnh ấy như trở thành thứ bệnh nan y bất trị. Hậu quả là sự nghèo khó cùng với món nợ quốc gia khổng lồ mà "dân chịu" như lời chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu. Theo ước tính của các chuyên gia, nợ công của Việt Nam đang ở mức trên 80,070 tỷ USD; bình quân nợ công theo đầu người là 886,36 USD (gần 20 triệu VND/người. Vẫn còn bỏ ngõ một nền công nghiệp hóa dang dở, đang trên đà phá sản. Việt Nam phải nhập siêu các trang thiết bị, nguyên vật liệu trong công nghệ lắp ráp ô tô và trong ngành xây dựng từ các nhà thầu nước ngoài nên tỉ lệ nội địa hóa rất thấp; trong khi đó Cam-Pu-Chia đã qua mặt Việt Nam trong ngành sản xuất ô tô và cho ra đời dòng sản phẩm AngKor EV 2014 khiến các tiến sĩ giấy của VN phải ngượng ngùng

Dậm chân tại chỗ?

Cùng lúc đó, đến hôm nay nền giáo dục vẫn phải còn loay hoay trong nhu cầu cải cách hầu như toàn bộ với số tiền 34.000 tỷ đồng khiến mọi người dân nghe phải giật mình. Việt Nam có con số hơn 24 ngàn tiến sĩ (đông bậc nhất thế giới) nhưng lại là nước nghèo đội sổ trên thế giới. Những phát minh khoa học, những tác phẩm văn học lớn cũng rất ít có trên đăng ký bản quyền trong nước và quốc tế. Chất lượng đào tạo Đại học kém nên hầu hết các sinh viên thất nghiệp hay làm việc trái ngành chuyên môn. Đáng ưu tư nhất là ngành y tế, với vô số đề tài sôi nổi trên mặt báo, truyền thông trong suốt thời gian qua, đặc biệt là trong tháng tư này. Nạn dịch sởi đã lan tràn trên khắp cả nước cướp đi 118 sinh mạng trẻ em và gây quá tải trong các bệnh viện nhi trung ương ở Sàigòn, Hà Nội cũng chỉ vì một thứ văc-xin. Vì muốn giấu nhẹm những yếu kém, tắc trách trong ngành y tế mà bà bộ trưởng Tiến không dám công bố dịch và ngăn cấm các phóng viên nhà báo vào bệnh viện tác nghiệp.
Song song với những vấn nạn xã hội quốc nội là ngoài biên ải là sự hiểm họa đe dọa xâm lăng của Trung Quốc. Biển đảo, lãnh hải đang nguy cơ mất dần vào tay của "người bạn láng giềng 4 tốt –16 chữ vàng" bởi sự dung túng yếu hèn của đảng cầm quyền. Những dự án lớn trong ngành khai thác xây dựng là những nhịp cầu để đưa người và hàng hóa Trung Quốc vào sâu trong lãnh thổ VN một cách hợp pháp. Từ Cà Mau, Tây Nguyên, Miền Trung (Vũng Áng), Đà Nẳng đến Quảng Ninh đi đâu cũng gặp người Tàu cùng với những khu phố mang bảng hiệu chữ Tàu như một điềm báo nguy cơ cho cả dân tộc.
Lịch sử dựng nước và giữ nước là khoảng dài thời gian trước và sau công nguyên gần 4 ngàn năm, chứa đựng biết bao nhiêu công lao của các bậc tiền nhân anh hùng qua các triều đại của Việt Nam. Triều đại này suy vong, buộc phải nhường chỗ cho triều đại khác thay thế để nối tiếp sứ mạng bảo vệ và xây dựng tổ quốc. Ngày 30-4-1795 chỉ là một cái mốc lịch sử. Đảng CS cũng chỉ được xem như là một triều đại trong nhiều triều đại trước đây. Đảng CSVN không phải là tổ quốc VN. Vì vậy, không thể bắt buộc QĐND, CAND và ND phải trung thành với đảng CSVN. Công hay tội chỉ có lịch sử mới có quyền phán xét, và chắc chắn sẽ được phán xét công bằng trong một thời gian không xa.
Đảng CS VN cần dừng lại ngay hành động tung hô quá khứ để tự tôn vinh chính mình, và hãy nhìn vào thực trạng hiện tại của đất nước. Đảng CSVN có khả năng gây chiến tranh để chiến thắng miền Nam nhưng đã không chứng tỏ được khả năng xây dựng nên hòa bình trong lòng dân tộc, và ổn định, phát triển đất nước trong suốt bốn thập niên qua. Hãy nhìn kỹ những vấn nạn của đất nước để trả lại quyền lãnh đạo cho dân tộc.
Viết từ Gia Lai (VN) ngày 26-4-2014
Hồng Trung


Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/ReadersOpinions/hong-trung-blog-0427-04272014155417.html

Để hòa giải cần bỏ danh xưng: “Chiến tranh chống Mỹ cứu nước – Giải phóng miền Nam”


Để hòa giải cần bỏ danh xưng: “Chiến tranh chống Mỹ cứu nước – Giải phóng miền Nam”

Nguyễn Tường Tâm (Danlambao) - Gần đây, một số viên chức cao cấp Cộng sản, kể cả Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã ra lời kêu gọi xóa bỏ hận thù, thực hiện hòa hợp hòa giải dân tộc. Nhưng song song với những lời kêu gọi hòa giải hòa hợp đó đảng Cộng sản cầm quyền vẫn duy trì chính sách phân biệt đối xử và vẫn gọi cuộc chiến miền Bắc xâm lăng miền Nam 1954-1975 là cuộc chiến Chống Mỹ Cứu Nước Giải Phóng Miền Nam. Điều đó chứng tỏ đảng cộng sản không có thực tâm hòa giải. 
Trước khi nói tới biện pháp hòa hợp hòa giải thì phải xác định ai hòa giải với ai? Dứt khoát không phải hòa giải giữa người Việt hải ngoại (xuất phát từ miền Nam) với nhân dân trong nước. Người Việt hải ngoại và nhân dân trong nước không hận thù nhau. Nhiều năm nay đảng cộng sản và bọn tay sai vẫn tung hỏa mù kêu gọi hòa hợp hòa giải giữa người Việt hải ngoại và nhân dân trong nước. Tung ra lời kêu gọi đó là ngầm kết tội tập thể người Việt hải ngoại (Việt Nam Cộng Hòa) là thủ phạm chủ trương chia rẽ, nuôi dưỡng hận thù. Người Việt hải ngoại (VNCH) dĩ nhiên không hận thù gia đình, thân nhân họ còn kẹt trong nước. Người Việt hải ngoại (VNCH) chỉ quyết liệt chống đảng cộng sản cầm quyền. Tại miền Nam, ngoại trừ một số ít trước 1975 nằm vùng theo cộng sản, còn lại đại đa số là nhân dân Việt Nam Cộng Hòa. Sau 1975, toàn thể người miền Nam đã bị đảng cướp bóc một cách tàn tệ qua các biện pháp đổi tiền, đánh tư sản, đuổi đi kinh tế mới, tịch thu nhà cửa, ruộng vườn, cơ xưởng, nên họ đều căm thù cộng sản; chỉ có điều họ không dám bộc lộ, chứ trong thâm tâm họ thì sự thù hận cộng sản lúc nào cũng cao ngất trời. Cho nên, khi nói tới “Hòa Hợp Hòa Giải” là phải nói tới hòa hợp, hòa giải giữa đảng cộng sản với nhân dân miền Nam (cả ở trong lẫn ngoài nước). Nhân dân miền nam trong nước và hải ngoại không có nhiệm vụ thực thi hòa giải bởi vì họ là nạn nhân chứ không phải thủ phạm của chủ trương và các biện pháp gây thù hận. Chính đảng cộng sản là thủ phạm của chính sách và hành động gây thù hận mới có trách nhiệm thực hiện hòa hợp hòa giải.
Một khi đã xác định đảng cộng sản có trách nhiệm xóa bỏ hận thù, chấm dứt phân biệt đối xử để tạo đoàn kết dân tộc thì nhiệm vụ của đảng cộng sản là công bố các chính sách và biện pháp hòa hợp hòa giải chứ không phải là kêu gọi người dân (trong nước hay hải ngoại) thực hiện điều đó. Người ta chỉ kêu gọi khi cả hai phía đều có trách nhiệm, khả năng và quyền lực ngang nhau thực hiện một hành vi nào đó. Khi chỉ đảng cộng sản có trách nhiệm, khả năng, và quyền lực để thực thi hòa hợp hòa giải, thì đảng không thể kêu gọi mà phải tự công bố các chính sách và biện pháp chấm dứt sự chia rẽ, phân biệt đối xử mà từ 30-4-75 tới nay vẫn còn áp dụng. Trốn tránh trách nhiệm mà lại kêu gọi nhân dân miền Nam (cả trong nước lẫn hải ngoại) thực hiện hòa hợp hòa giải tức là đảng vẫn đang áp dụng chính sách từ thời chiến tranh là bịp bợm và cả vú lấp miệng em.
Bề ngoài thì đảng cộng sản kêu gọi hòa giải hòa hợp nhưng bên trong thì đảng vẫn giữ những chính sách và biện pháp phân biệt đối xử giữa người miền Nam và người miền Bắc như vẫn áp dụng từ 30-4-75 tới nay. Chính sách thu dụng nhân viên, công chức, công an, quân đội và cung cấp phúc lợi xã hội (welfare) hiện nay vẫn dựa trên tiêu chuẩn người “có công hay thân nhân người có công với cách mạng”, hoặc người có “lý lịch tốt” (theo định nghĩa của đảng ). Chính sách tuyển chọn thành viên các cơ quan dân cử như hội đồng nhân dân các cấp và Quốc hội cũng dựa trên hai tiêu chuẩn này. Trong lãnh vực tư pháp, các can phạm cũng sẽ được cứu xét ưu tiên giảm án dựa trên hai tiêu chuẩn nêu trên. Tất cả những lãnh vực vừa nêu bao trùm toàn bộ cuộc sống của người dân nhưng đều hoạt động dựa trên tiêu chuẩn là người “có công hay thân nhân người có công với cách mạng”, hoặc người có “lý lịch tốt” (theo định nghĩa của đảng ).
Một trong những định nghĩa quan trọng của đảng cộng sản Việt Nam về cụm từ “người có lý lịch tốt” là phải có ba đời không liên quan tới quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Cái định nghĩa “lý lịch tốt” này, về bản chất, đã “không hòa hợp hòa giải”. Trừ một số ít nằm vùng hoạt động cho Việt cộng trước 1975, người miền Nam nào mà không liên hệ tới chính quyền hay quân đội Việt Nam Cộng Hòa ?
Trong cuộc chiến miền Bắc xâm lăng miền Nam, người Miền Bắc là kẻ chiến thắng thì người “có công và thân nhân người có công với cách mạng” dĩ nhiên là toàn thể người miền Bắc. Toàn thể người miền Nam, ngoài một số ít mù quáng nằm vùng theo Việt Cộng trước 1975, không ai là người “có công hay thân nhân người có công với cách mạng”.
Như thế, việc áp dụng hai tiêu chuẩn “lý lịch tốt” và “người có công hay thân nhân người có công với cách mạng” đã mặc nhiên loại trừ gần như toàn bộ người miền Nam trong việc thụ hưởng những quyền và những phúc lợi của công dân (welfare). Đồng thời việc áp dụng hai tiêu chuẩn trên cũng loại trừ gần như toàn bộ người dân miền Nam ra khỏi các ngành công an, quân đội, cơ quan dân cử, và các chức vụ từ phó phòng trở lên. Chưa kể trong tư pháp hai tiêu chuẩn trên cũng khiến gần như toàn bộ người miền Nam không được bình đẳng trước pháp luật với người miền Bắc.
Chỉ có kẻ chiến thắng mới có điều kiện để thực hiện hòa hợp hòa giải, vì họ có quyền lực. Muốn hiểu thế nào là thực tâm hòa hợp hòa giải của kẻ chiến thắng thì hãy tìm hiểu giải pháp đối xử của giới lãnh đạo miền Bắc Hoa Kỳ với cấp lãnh đạo và nhân dân bên thua cuộc là miền Nam nước Mỹ sau chiến tranh Nam Bắc Mỹ 1860s, hãy tìm hiểu giải pháp của chính quyền của người da đen tại Nam Phi đối xử với người da trắng trước kia thống trị và đàn áp họ sau khi người da đen chiến thắng nắm quyền, và có lẽ dễ dàng và gần gũi với người Việt nhất là hãy nhìn giải pháp ở nước Đức sau ngày thống nhất 1989. Mặc dù Tây Đức thắng và Đông Đức cộng sản sụp đổ, nhưng các viên chức cộng sản Đông Đức, kể cả công an và quân đội chẳng những không bị xúc phạm mà còn được lưu dụng như cũ. Những người cộng sản đã hưởng lương hưu của Đông Đức vẫn được người dân Tây Đức đóng thuế trả lương hưu cho họ đầy đủ. Trừ một số rất nhỏ đã có bằng chứng trước đó đối xử tàn ác với dân chúng thì mới bị mang ra tòa án xét xử, và cũng chỉ bị xét xử theo công lý chứ không bị những biện pháp “trả thù”. Như thế mới là thực tâm xóa bỏ hận thù, thực hiện hòa hợp hòa giải dân tộc. Chính quyền cộng sản Việt Nam hiện nay chưa thực tâm hòa hợp hòa giải với người dân miền Nam (ở trong nước hay đã di tản ra nước ngoài). Một trong những điều kiện để chứng tỏ đảng cộng sản có thực tâm hòa giải với nhân dân miền Nam, cả trong nước lẫn ngoài nước, là họ phải bỏ điều kiện “lý lịch tốt”, tức là phải có ba đời không liên hệ tới Việt Nam Cộng Hòa; và tiêu chuẩn “có công hay thân nhân người có công với cách mạng” trong việc xét cấp các quyền lợi xã hội (welfare) và xét tuyển bổ dụng nhân viên vào tất cả mọi ngành, mọi cấp trong hành chánh, công an, quân đội cũng như trong các cơ quan dân cử và trong việc xét xử tư pháp.
Điều kiện thứ hai để chứng tỏ thực tâm hòa hợp hòa giải với nhân dân miền Nam thì đảng phải chấm dứt việc gọi cuộc chiến 1954-75 là cuộc chiến “Chống Mỹ, Cứu Nước, Giải Phóng Miền Nam”. Một khi đã gọi cuộc chiến 1954-75 là cuộc chiến “Chống Mỹ, Cứu Nước, Giải Phóng Miền Nam” tức là đảng đã phân chia ranh giới: nhân dân miền Nam là Ngụy, là theo giặc, là bán nước và đảng và người miền Bắc là kẻ anh hùng Cứu Nước, và Giải Phóng Miền Nam. Định danh cuộc chiến 1954-75 như thế là một xúc phạm vô cùng tới danh dự của nhân dân miền Nam (dù còn trong nước hay đang ở hải ngoại), một điều không người gốc miền Nam nào chấp nhận.
Trong khi đó, sau 30-4-1975, nhất là sau những vụ đổi tiền, đánh tư sản, đuổi đi kinh tế mới, tịch thu nhà cửa, ruộng vườn, cơ xưởng, do đảng thực hiện, trong thâm tâm những người miền Nam đều thấy rõ cuộc chiến 1954-75 chẳng phải là cuộc chiến Chống Mỹ gì cả (sau hiệp định 1973 thì miền Nam có còn Mỹ đâu mà chống?) và cũng chẳng giải phóng ai cả vì người miền Nam giầu có hơn gấp trăm lần người miền Bắc, có trình độ văn hóa cao gấp bội người miền Bắc và sống trong một chế độ tự do dân chủ “gấp vạn lần miền Bắc” thì người miền Bắc giải phóng người miền Nam ở điểm nào? Ngoài ra ai cũng biết, ngay sau khi chiếm được miền Nam, hàng ngày có hàng đoàn xe tải bộ đội kìn-kìn chở đầy chiến lợi phẩm cướp được của nhân dân miền Nam từ xe đạp, quạt điện, bàn là (bàn ủi), “đài”, “đổng” (đồng hồ) tới con búp bê biết khóc v...v. mang về cho gia đình đang nghèo khổ ở miền Bắc. Tự nhận mình là người anh hùng giải phóng miền Nam mà lại hàng ngày lấy đồ đạc của nhà người ta chở về nhà mình ở miền Bắc à? Từ thực trạng đó, việc gọi cuộc chiến 1954-75 là cuộc chiến “Chống Mỹ, Giải Phóng Miền Nam” là một sự bịp bợm trắng trợn. Một sự bẻ cong lịch sử. Đáng lẽ trái lại, đúng trên thực tế phải gọi đó là cuộc “Xâm Lăng và Ăn Cướp Miền Nam của đảng Cộng Sản và Người Miền Bắc”.
Tóm lại, trước nguy cơ mất nước vào tay Trung Quốc hiện nay, cuộc hòa hợp hòa giải để thực hiện đoàn kết dân tộc là cần thiết. Nhưng đó là cuộc hòa hợp hòa giải giữa đảng Cộng sản và nhân dân Miền Nam (cả trong nước lẫn hải ngoại). Trách nhiệm thực hiện việc hòa giải này thuộc đảng cộng sản là thủ phạm gây hận thù và chia rẽ. Vì đảng đã nhiều lần lừa bịp dân chúng, cho nên lần này, để chứng tỏ thực tâm hòa giải giữa đảng với nhân dân miền Nam (cả trong nước lẫn hải ngoại), thì đảng phải chấm dứt việc gọi cuộc chiến 1954-75 là “Cuộc chiến Chống Mỹ Cứu Nước Giải Phóng Miền Nam” và chấm dứt các chính sách phân biệt đối xử với người miền Nam bằng cách bỏ hai tiêu chuẩn người “có công hay thân nhân người có công với cách mạng”, và người có “lý lịch tốt” (theo định nghĩa của đảng ) trong các lãnh vực tuyển dụng hành chánh, công an, quân đội, dân cử và trong các vụ xét xử tư pháp. Kêu gọi đoàn kết dân tộc không phải chỉ là những khẩu hiệu tuyên truyền như hiện nay mà phải là những biện pháp cụ thể do chính đảng cộng sản cầm quyền thực hiện.
  Nguồn:http://danlambaovn.blogspot.com/2014/04/e-hoa-giai-can-bo-danh-xung-chien-tranh.html#more

Hòa giải hòa hợp dân tộc: Những tiếng nói từ cư dân mạng

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sẵng (Danlambao) - Bài nầy được viết ra từ những bình luận (comments) của cư dân mạng qua bốn bài viết trong những ngày gần đây trên trang mạng điện tử Dân Làm Báo. Nhận thấy có quan điểm khác nhau, có những đề nghị từ cư dân mạng. Tôi xin lược trình theo phương thức sau đây.
Trước hết, tôi xin được trình bày cách thức làm việc:
A- Thời gian sưu tầm tài liệu: trong khoảng một tháng.
B- Phạm vi sưu tầm: từ bốn bài viết trên trang mạng điện tử Dân Làm Báo, trang mạng có phần bình luận của độc giả.
C- Phân loại những bình luận.
D- Phần nhận định của người viết dựa vào sự phân loại.
E- Rút ra bài học từ những lên tiếng nầy của cư dân mạng.
*
A. Thời gian tìm tài liệu:
Có 271 lời bình luận chỉ trong bốn bài viết và trong một thời gian khoảng một tháng vào giữa tháng 3 và 4 năm 2014. Điều đó nói lên những suy nghĩ, ưu tư của cư dân mạng liên quan đến vấn đề HGHH, một vấn đền mà nhà cầm quyền cộng sản đang cố sức rêu rao, kêu gọi trong những ngày gần đây.
B. Phạm vi sưu tầm: 
Vì khuôn khổ của bài viết, nên tôi chỉ nêu tên bài viết và tên tác giả, nếu quí vị muốn có thêm chi tiết xin vào trang mạng Dân Làm Báo. Đó là:
3- HHHG Dân Tộc đi về đâu, của David Thiên Ngọc.
4- Gỗ đã xấu, Sơn lại tồi, của Nguyễn Bá Chỗi.
Dĩ nhiên, không phải chỉ có những bình luận trên thôi, mà còn có những bình luận khác của những tác giả khác trên nhiều diễn đàn, nhưng với Dân Làm Báo có phần Bình Luận để độc giả đưa ra những phản hồi, nên tôi dùng trang mạng nầy. Và dĩ nhiên có những bình luận trong những giai đoạn trước mà tôi chưa được biết.
Và cũng xin được lập lại, đây chỉ là tiếng nói của những cư dân mạng, những người bày tỏ quan điểm mình một cách công khai trên trang mạng. Tôi nghĩ đó là những người ưu tư với vấn đề Hòa Giải Hòa Hợp (HGHH) dân tộc.
C. Phân loại những bình luận. 
Dựa vào 271 bình luận nầy, có thể chia ra làm 7 đề mục sau đây:
1- HHHG là mắc mưu cộng sản, có 48 ý kiến, tỉ lệ 14.4%.
2- Bát bỏ chủ trương HHHG của người cộng sản, có 47 ý kiến, tỉ lệ 14.1%.
3- Ủng hộ chủ trương HHHG với người cộng sản, có 16 ý kiến, tỉ lệ 4.8 %.
4- HGHH phải có điều kiện, có 9 ý kiến, tỉ lệ 2.7%.
5- Phải HGHH với người dân trong nước, có 6 ý kiến, tỉ lệ 1.8%.
6- Lên án Nguyễn Thanh Sơn trong kế hoạch HGHH, có 59 ý kiến, tỉ lệ 17.7%
7- Nhân dịp đề cập đến HGHH, lên án người cộng sản, có 86 ý kiến, tỉ lệ 25.8%
D. Phần nhận định của người viết dựa vào sự phân loại. 
1- Đề mục 7, lên án người cộng sản, có nhiều bình luận nhất, với 86 ý kiến, tỉ lệ 25.8%. Điều nầy nói lên là người dân hiện nay rất chán ghét cộng sản.
2- Trong ba mục 1, 2, và 6 là có nhiều lời binh luận cao thứ nhì. Nhất là đề mục 6, điều nầy chứng tỏ những lời rêu rao của Nguyễn Thanh Sơn là đã thực hiện nghị quyết 36 thành công. Điều nầy chẳng những không đúng, mà còn mang tính bịa đặt. Hay nói cách khác là người cộng sản đã thất bại trong âm mưu tuyên truyền, chiêu dụ người Việt hải ngoại.
3- Đề mục 3, với tỉ lệ 4.8%, một cách công bình mà nói thì có người ủng hộ chủ trương HHHG của người cộng sản, tuy rằng con số quá ít (16/271). Và những người nầy là ai, có lẽ người đọc cũng có thể tự đánh giá được.
4- Đề mục 4 và 5 với tỉ lệ khiêm nhường, nhưng đã cho thấy hai ý kiến mới là HGHH phải có điều kiện và HGHH với đồng bào trong nước. 
5- Nếu tổng cộng đề mục 6 (lên án NTS) và đề mục 7 (lên án người cộng sản), có 145 ý kiến, tỉ lệ 43.5%. Điều nầy chứng tỏ rõ ràng là NTS chỉ đi chọc giận đồng bào hải ngoại để họ lên án người cộng sản gắt gao hơn, chớ không tạo được tinh thần hòa giải nào cả.
Việc nầy chứng tỏ thêm rằng NTS không xứng đáng, không có khả năng làm Thứ Trưởng ngoại giao. Đảng cộng sản Việt Nam nên mời ông về nhà đuổi gà cho vợ.
E. Rút ra được bài học gì từ những lên tiếng nầy của cư dân mạng? 
1- Đây là một nghiên cứu nhỏ, dựa trên thông tin mạng (internet based research) với những ý kiến từ nhóm người nhứt định, trong khoảng thời gian giới hạn, nhưng với sai số nhỏ (margin error < 5), theo phương pháp khoa học, vì vậy nó có giá trị nhất định của nó. Người viết sẽ theo dõi và nếu có thể, sẽ lấy ý kiến từ những giới khác, nhất là từ những người trong nước.
2- Nhà cầm quyền Hà Nội nếu thực tâm muốn HGHH dân tộc phải lắng nghe ý kiến nhân dân chớ không nên nói một chiều, nói một mình, nói một kiểu; phải thảo luận sâu rộng với đồng bào quốc nội để tìm con đường phù hợp nhất để giải quyết những vấn nạn của đất nước trên căn bản đặt lợi ích tổ quốc trên hết, kế đến là phúc lợi toàn dân. Phải nhớ rằng không một chánh thể nào tồn tại mãi mãi, nhớ rằng quan nhất thời dân vạn đại để quay về với dân tộc. Đừng để đến khi quá trễ và những sai lầm của lịch sử lại lập lại, gây thêm đau thương thù hận cho dân tộc nầy. Người Việt Nam chịu quá nhiều đau thương do đảng cộng sản gây ra rồi.
3- Người Việt ở hải ngoại không bao giờ quên đồng bào trong nước. Hãy nghe tâm tình của Thượng Nghị Sĩ Canada gốc Việt, ông Ngô Thanh Hải sau đây:
“Tôi tin tưởng mãnh liệt rằng với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, với nhân lực dồi dào và trẻ, với bản tính cần cù, nhẫn nại, cộng thêm nguồn năng lực trí tuệ trẻ ở hải ngoại, chừng 20 năm con rồng Việt Nam sẽ cất cánh bay lên ngang hàng cùng Thái Lan, Đài Loan, có thể gần bằng Nam Hàn, Singapore, và sẽ không hề thua kém họ. Và bản thân tôi cũng có trách nhiệm với đất nước, dân tộc tôi. Chừng nào tôi còn là Thượng Nghị Sĩ, tôi sẽ vận động chánh quyền Canada giúp đỡ phát triển, đầu tư vào Việt Nam, tôi sẽ xin những nước chủ nợ xóa, giảm nợ và hỗ trợ Việt Nam trong những kế hoạch kinh tế lớn của họ. Điều nầy chỉ xảy ra khi người dân Việt Nam có đầy đủ quyền tự do, dân chủ và nhân quyền”.
4- Và lắng nghe một cư dân mạng đưa ra đề nghị để giải quyết vấn nạn của Việt Nam như sau: (Xin lỗi tác giả vì trong lời bình luận, tôi không thấy tên tác giả) “Cũng dễ thôi. Đảng cộng sản hãy hòa hợp với đồng bào Việt Nam đang đau khổ vì chế độ cộng sản trong nước trước.”
- Ra lệnh chấm dứt ngay tức khắc mọi cuộc bắt bớ, mọi hành động tra tấn của công an côn đồ đối với dân chúng.
- Truy tố, nghiêm khắc trừng trị cá nhân những công an côn đồ đã tra tấn, sát hại đồng bào nạn nhân.
- Đền bù xứng đáng cho gia đình nạn nhân.
- Nghiêm cấm ngay lập tức mọi hành vì cướp đất, xâm phạm thân thể, tài sản và gia cư của dân chúng đồng bào.
- Trả ngay đất đai đã lấy của đồng bào dân oan.
- Đối với những gia đình của chế độ VNCH và đồng bào vượt biên tỵ nạn cộng sản: Hãy trả ngay nhà cửa, đất đai, tài sản đã lấy của họ. Hãy triệu hồi mọi phần tử tay sai nằm vùng phá hoại người Việt tỵ nạn cộng sản ở nước ngoài về nước.
- Chấm dứt tuyên truyền gây chia rẽ giữa người Việt Nam với nhau.
- Đối với người yêu nước, phản đối chế độ cộng sản đã và đang bị giam giữ trong nhà tù cộng sản kể từ sau năm 1975: Hãy trả tự do lập tức cho tất cả không trừ một ai.
- Hãy kêu gọi quốc tế vào Việt Nam vừa làm trọng tài, vừa hướng dẫn công chúng đồng bào Việt Nam tổ chức bầu cử tự do, thành lập chế độ dân chủ có quốc tế giám sát và hỗ trợ dài lâu như Campuchea, như các nước Đông Âu và Bắc Phi.
- Nếu những người đứng đầu chế độ cộng sản hiện nay sợ Trung cộng, không dám trực tiếp kêu gọi quốc tế, LHQ vào Việt Nam, hãy hỗ trợ cho nhân dân Việt Nam khắp nước đứng dậy để nhân dân Việt Nam kêu gọi quốc tế vào Việt Nam.
- Đối diện với sự phẫn nộ đang lan tràn khắp nước của đồng bào Việt Nam, đối diện với sự tàn bạo của đảng cộng sản Tàu, đảng cộng sản, đảng viên cộng sản Việt đang ở bước đường cùng. Không hòa giải với đồng bào Việt Nam, trong và ngoài nước, trước mặt, đảng viên cộng sản không thể tránh khỏi sự trừng trị tàn bạo của Trung cộng bởi 99% đảng viên đương chức ai cũng là những con ruồi, con hổ cần diệt trừ đối với cuộc thanh trừng đảng cộng sản Tàu!
- Chỉ một chế độ dân chủ dưới sự giám sát của quốc tế, của Liên Hiệp Quốc, đảng cộng sản, chế độ cộng sản sẽ chấm dứt, vĩnh viễn, nhưng chỉ bằng con đường này, chỉ dưới chế độ dân chủ có luật lệ nghiêm minh, chặt chẽ, đảng viên cộng sản mới còn sống sót”.
Người cộng sản nên nghiêm chỉnh xem xét đề nghị nầy, nếu muốn chứng tỏ thực lòng muốn HGHH với dân tộc.
Hãy tỉnh táo và khôn ngoan để giải ách nạn cho đất nước và cho cả chính mình.
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sẵng

TQ muốn biến VN thành trung tâm sản xuất hàng giả


Trung Quốc muốn biến Việt Nam thành trung tâm sản xuất hàng giả


Chủ Nhật, ngày 27 tháng 4 năm 2014

Đó là cảnh báo của nhiều chuyên gia và doanh nhân tại buổi hội thảo có tên “Doanh nghiệp đồng hành cùng quản lý thị trường trong công tác chống hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ”.



Hàng hóa trong một siêu thị. Nếu không hành động ngay và dứt khoát, Việt Nam sẽ bị các doanh nghiệp Trung Quốc biến thành trung tâm sản xuất hàng giả trên thế giới. (Hình: TBKTSG)

Những chuyên gia và doanh nhân này nhận định, đang có một làn sóng chuyển các cơ sở sản xuất hàng giả từ Trung Quốc sang Việt Nam vừa vì giá nhân công tại Việt Nam rẻ hơn, vừa vì khi xuất cảng sang các quốc gia khác, hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam không bị chiếu cố kỹ như hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc.

Điều này tạo ra một nguy cơ mới, đó là nếu không có các biện pháp hữu hiệu và quyết liệt, doanh nghiệp Trung Quốc sẽ biến Việt Nam thành trung tâm sản xuất hàng giả của thế giới, thế chỗ cho Trung Quốc.

Tại hội thảo, ông Đỗ Thanh Lam, Cục phó Cục Quản lý thị trường của Bộ Công Thương Việt Nam, than rằng, việc sản xuất, mua bán hàng giả tại Việt Nam càng ngày càng tinh vi. Ngoài chuyện được sản xuất tại Việt Nam, hàng giả còn được nhập cảng dưới dạng nguyên chiếc hoặc dưới dạng linh kiện, nên rất khó phát giác.

Viên Cục phó Cục Quản lý thị trường tiết lộ, có những công ty Trung Quốc xuất cảng tới 90% hàng giả sang Việt Nam mà sự tinh vi đạt tới mức, chỉ có những công ty là nạn nhân trực tiếp của chuyện bị làm giả, phải dùng những thủ thuật riêng mới phân biệt được.

Cục Quản lý thị trường của Bộ Công Thương Việt Nam công bố một thống kê để phác họa mức độ nghiêm trọng của vấn nạn hàng giả đến từ Trung Quốc. Theo đó, năm 2010, cơ quan này chỉ phát giác, xử lý khoảng 10,500 vụ hàng giả, giá trị hàng giả khoảng 3.8 tỉ đồng, thu về số số tiền phạt là 44.4 tỉ đồng thì ba năm sau (2013), số vụ hàng giả bị phát giác, xử lý lên tới 14,000, giá trị hàng giả khoảng 32.1 tỉ đồng, thu về số số tiền phạt là 62 tỉ đồng.

Một viên chức tên là Nguyễn Thanh Hồng, đang đảm nhiệm vai trò Trưởng phòng Thực thi và Giải quyết khiếu nại của Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học - Công nghệ Việt Nam, góp rằng, bởi tiếp giáp với một siêu cường quốc về hàng giả nên sẽ rất khó tránh hàng giả thẩm lậu vào Việt Nam.

Ông Phan Minh Nhựt, Giám đốc Bảo vệ nhãn hiệu của Công ty Nike, nhấn mạnh, trước khuynh hướng các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng giả của Trung Quốc đang đầu tư để chuyển việc sản xuất hàng giả của họ sang Việt Nam, nếu không hành động ngay và dứt khoát, Việt Nam sẽ thế chỗ Trung Quốc, trở thảnh trung tâm sản xuất hàng giả của thế giới, hàng hóa xuất cảng từ Việt Nam sẽ bị các quốc gia săm soi, khám xét rất kỹ, y như họ đang làm với hàng hóa xuất cảng từ Trung Quốc.

Trưởng phòng Thực thi và Giải quyết khiếu nại của Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học - Công nghệ Việt Nam, cho biết, theo một thống kê gần đây của Hải quan Hoa Kỳ, 70 % hàng giả bị Hải quan Hoa Kỳ thu giữ có xuất xứ từ Trung Quốc và số hàng giả có xuất xứ từ Việt Nam đã tăng lên, hiện chiếm 1% .

Trung tuần tháng trước, sau khi nhà cầm quyền tỉnh Nam Định cho phép một tập đoàn của Trung Quốc xây dựng một nhà máy trị giá 1,400 tỉ đồng, các chuyên gia kinh tế Việt Nam đã từng công khai bày tỏ sự lo ngại trước những dấu hiệu cho thấy các doanh nghiệp Trung Quốc đang tăng vốn đầu tư vào Việt Nam.

Ngoài việc tăng số lượng các dư án đầu tư, các doanh nghiệp Trung Quốc còn rót tiền mua lại cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang khó khăn về tài chính. Lúc đó, các chuyên gia kinh tế chỉ cảnh báo về viễn cảnh, các công ty Trung Quốc sẽ nhan nhản ở Việt Nam và sẽ đến lúc họ có thể thao túng thị trường, tác động đến chính sách.

Nay đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam tạo ra một nỗi lo mới. Nỗi lo Việt Nam được Trung Quốc biến thành trung tâm sản xuất hàng giả, thế chỗ của mình.

(Người Việt) 
 
 Nguồn:  http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=28463

Ố là la: Xe tăng Mỹ húc sập cổng Dinh "Thống Nhất" 2014 ?

Chủ tịch Trà Vinh không biết pano "xe tăng Mỹ húc cổng Dinh Độc lập"


Dư luận đang hết sức bất bình sau khi được xem tấm pano kỷ niệm 39 năm thống nhất đất nước in hình chiếc xe tăng húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập là một xe tăng của…Mỹ.

Theo điều tra của phóng viên Infonet, tấm pano có nội dung kỷ niệm 39 năm ngày thống nhất đất nước, phía dưới là ảnh đồ họa một chiếc xe tăng treo cờ của Mặt trận dân tộc Giải phóng Miền nam Việt Nam đang húc đổ cánh cổng (Dinh Độc Lập) đang bị dư luận trong nước phản ứng dữ dội những ngày qua đang được treo tại nhiều địa điểm công cộng của thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Tấm pano được dựng gần Sở thông tin và Truyền thông tỉnh Trà Vinh. (Ảnh do độc giả Võ Lê Nhật Minh cung cấp)

Điều khiến mọi người phản ứng là hình ảnh đồ họa mô phỏng cảnh một chiếc xe tăng húc đổ cánh cổng (biểu trưng cho thời khắc lịch sử chiếc xe tăng T59, mang số hiệu 390 của quân đội nhân dân Việt Nam húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975) đã bị thay bằng một chiếc xe tăng có hình dáng y như một chiếc xe tăng của Mỹ.

Thậm chí nhiều người thông thạo về vũ khí, khí tài quân đội còn khẳng định đây là mẫu xe M1 Abrams - loại xe tăng chiến đấu chủ lực thông dụng nhất trong quân đội Mỹ được biên chế từ năm 1980.

Rõ ràng, đây là hình ảnh sai lệch nghiêm trọng so với lịch sử và điều đáng buồn hơn là nó đã lọt qua cánh cửa kiểm duyệt của các cơ quan chức năng tỉnh Trà Vinh.

Sáng ngày 28/3, trả lời câu hỏi của phóng viên Infonet, anh Võ Lê Nhật Minh, một người dân sống tại đây cho biết những tấm pano này đã được được dựng lên từ khoảng 3 ngày trước.

Hình chiếc xe tăng gây tranh cãi.

Trả lời PV Infonet qua điện thoại bà Võ Thị Lượng – Chánh văn phòng Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Trà Vinh cho biết, hiện tại bà chưa nhận được thông tin này nên chưa thể đưa ra kết luận.

Trong khi đó khẳng định với PV Infonet ông Đồng Văn Lâm – Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh cũng cho rằng ông chưa nhận được thông tin về sự việc, tuy nhiên ông sẽ cho người đi kiểm tra ngay lập tức và có hướng xử lý thích hợp.

Infonet sẽ phản ánh đến độc giả những biện pháp xử lý tiếp theo của chính quyền tỉnh Trà Vinh.

Nguyễn Cường (Infonet)

=============================

Người mê tín thì bảo "Ấy là điềm lành (hay điềm dữ) " nhưng hẳn ai cũng phải công nhận một điều chắc chắn là những tên cán bộ ở Sở TT& TT và chủ tịch tỉnh Trà Vinh chỉ gồm toàn hạng VÔ VĂN HÓA và VÔ TÍCH SỰ , cần phải được ... duy trì vì đã và đang góp phần làm sụp đổ guồng máy cai trị cs băng hoại này nhanh hơn
 Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=28476

Tin nhanh về: Thánh lễ tri ân phế binh QLVNCH tại nhà thờ Kỳ Đồng - Sài Gòn

 
Tin nhanh về: Thánh lễ tri ân phế binh QLVNCH tại nhà thờ Kỳ Đồng - Sài Gòn 


  http://youtu.be/T1EP7BChWWw

  Trương Minh Đức (Danlambao) - Sáng nay 28/4/2014 tại nhà thờ 38 Kỳ Đồng - Sài Gòn đã diễn ra thánh lễ tri ân cho các Thương Phế Binh QLVNCH. Thánh lễ tri ân năm nay gồm có 424 người trong danh sách đăng ký, tuy nhiên số lượng người tham gia lại được phát sinh thêm gần 10 người. Trong buổi lễ còn có nhiều chức sắc Tôn giáo phía Nam tham dự. Người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu cũng có mặt tham dự, tại buổi lễ ông đã hát tặng cho các TPB - QLVNCH những bài hát ông đã sáng tác trong tù trong 37 năm trong nhà tù CSVN...
Một số hình ảnh về Thánh lễ tri ân phế binh QLVNCH tại nhà thờ Kỳ Đồng - Sài Gòn:





Trương Minh Đức danlambaovn.blogspot.com

 Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=28472  




===========&===========



Hôm Chúa Nhựt ngày 5-6-2011, tại Chùa Liên Trì Phường An Khánh, Quận 2, Thủ Thiêm, Sài Gòn, Hòa Thượng Thích Không Tánh cùng quý Phật Tử có tổ chức buổi phát quà cho Thương Phế Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tổng cộng có 176 phần quà, mỗi phần gồm: 1 bì thư 400.000 đồng + 5 ký gạo + 5 gói mì. Ngoài ra Hòa Thượng còn quan tâm đến quý AnhEm ở xa đến như là Tiền Giang, An Giang, Bình Dương, Bạc Liêu..., đã hổ trợ mỗi AnhEm thêm 100.000 đồng tiền xe! Có một số AnhEm vì tàn tật già yếu, đến muộn, HT cũng giúp đỡ không bỏ sót AnhEm nào. Thêm nữa, các AnhEm còn được dùng bữa cơm chay thân mật đầy tình người tại chùa. Có những AnhEm cụt 2 chân thương tật quá nặng, các Phật Tử khỏe mạnh đã cõng vác AnhEm xuống tận bàn dùng bữa.

 

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

BẮC KỲ 9 NÚT - BẮC KỲ 2 NÚT


30 tháng 4, ngày vào vơ vét
BẮC KỲ 9 NÚT - BẮC KỲ 2 NÚT
TLC BÙI-TRỌNG-NGHĨA/K18-BBTĐ


“Anh hãy đi cho khuất mắt tôi, các anh đeo dai như con đỉa. Chúng tôi đã sợ các anh quá rồi! Hai mươi mốt năm trước, chúng tôi đã phải bỏ cả nhà cửa làng xóm để chạy xa các anh vào đây, vậy mà bây giờ các anh vẫn lại theo bám, không buông tha!”

Đó là lời người con gái ở Hố-Nai Biên-Hòa (bắc kỳ 9 nút) nói với tên bộ đội (bắc kỳ 2 nút) khi hắn theo tán tỉnh cô sau 30-4-1975. Cô là thế hệ thứ hai của một gia đình di cư vào Nam sau 20-7-1954. Tội nghiệp cô gái bắc kỳ! Chúng tôi, những người lính thời ấy, trách nhiệm thế nào với nỗi nghẹn ngào cay đắng này của cô?
Ván bài thắng ngược! Tại sao con số 9 nút (1954) lại thua con số 2 nút (1975)? Cái gì khiến cô gái bắc kỳ này lại sợ tên bộ đội bắc kỳ kia? Trải nghiệm thực tế, đơn thuần trong sinh hoạt xã hội của “bác” Hồ trước và sau những năm 1975 để giải mã những nguyên nhân căn bản khiến con số 9 nút phải thua con số 2 nút:
Ở năm thứ 5 của đời tù tội, lần đầu tiên mẹ tôi đi thăm tôi ở trại Ba-Sao Nam-Hà, quà cho tôi thật khiêm tốn, trong đó có hai hộp sữa đặc là đáng quý nhất. Tôi nói đường xá xa xôi, mẹ mang làm chi hai hộp sữa này cho nặng, thì mẹ tôi cho biết bà mua ở Hà-Nội khi đi ngang qua. Chia tay, tôi ôm hai hộp sữa vào lòng, nghĩ tới chiều nay có được cái “ngọt ngào của cuộc đờiˮ, cái ngọt ngào đã biến mất trong suốt hơn 5 năm trong đời tù đày, mà đôi chân tôi bước đi khấp khểnh, cao thấp như đang ở trên mây.
Thế nhưng, trời sập rồi! cái đinh vừa đâm lút vào hộp sữa thì một dòng bùn đen túa ra, tôi mềm người rũ gục như một tàu lá úa. Ngồi cạnh tôi, người bạn thân trong tù đang chờ được chia xẻ, đôi mắt trợn tròn rồi rủ xuống như muốn khóc! Bóc nhãn hiệu ra, thấy cạnh hộp sữa có một vết hàn. Như thế là người Hà-Nội đã tinh vi sáng tạo: rút ruột sữa ra, bơm bùn đen vào rồi hàn lại. Quả thật (mẹ tôi), Bắc Kỳ 9 nút đã thua Bắc kỳ 2 nút!
“Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Tôi đã học cái văn hóa đó ở nhà trường. Ở nhà, trong hoàn cảnh nghèo, mẹ tôi thường nhắc nhở anh em chúng tôi phải luôn giữ cái chất“bần tiện bất năng di” ấy. Đó là cái nhân cách căn bản được giáo huấn ở học đường miền Nam Việt-Nam, ở cái đất nước mà con người hiền hòa, chân chất, đơn thuần, vô tư không ôm hận thù, không biết cướp bóc, lừa bịp, đểu cáng vv. Đó chính là cái đất nước ở phía sau vĩ tuyến 17 kia.
Còn ở miền Bắc, cái đất nước trước vĩ tuyến 17 thì sao? Người ta dạy nhau cái gì ở nhà trường và ngoài xã hội? Người ta dạy nhau rằng“bần cùng sinh đạo tặc”. Hậu quả là sau 30- 4-1975, người Bắc Kỳ, tay cầm dao, tay cầm súng, tràn vào miền Nam điên cuồng giết người cướp của, hành động của “kẻ dã man thắng người văn minh” mà nhà nữ văn sĩ C/S Hà-Nội Dương-thu- Hương đã nhận xét.
Sự thật đã chứng minh “con người ít nhiều là sản phẩm của xã hội”, vậy thì xã hội man rợ tất nhiên sản xuất ra con người dã man. Từ cái bản chất dã man này, tự nó, sinh ra tệ trạng sinh hoạt đầy tính chất nguy hiểm, độc ác, gian manh, quỷ quyệt khó lường v.v. Đó là kết quả tất yếu không cần lý giải.
Chỉ có một mẩu cá khô lấy trộm trong khi vận chuyển lương thực, ông chiến hữu của tôi miệng phải ngậm miếng cá đó, cổ đeo cái bảng viết hai chữ “ăn cắp”, đứng trước cổng trại suốt ba ngày! Miếng ăn quý hơn mạng người! Ông ngục sĩ Nguyễn-chí-Thiện khi còn sống đã nói rằng: “miền bắc thắng miền nam là do chế độ lương thực tem phiếu”. Ông đúng hay sai? Đây là câu trả lời: “Em xin anh, chúng em mà nói trên đài thì ở ngoài kia, cha mẹ và vợ con em sẽ bị cắt hộ khẩu, họ sẽ chết đói!”. Đó là lời của ba tên tù binh bị bắt trong trận đánh cuối cùng ở Long-Khánh.
Tôi còn nhớ, ngày 3/9/1978, ngày giỗ “bác” Hồ của nhân dân bắc kỳ (2 nút), tại trại giam ở Yên-Bái, địa danh có cái tên nghe rợn người: “Ma thiên lãnh!”, tù nhân được nghỉ một ngày để chuẩn bị làm giỗ “bác”. Bàn thờ được trải khăn đỏ, sau bàn treo lá cờ to, trên bàn có hình “bác”, trước “bác” đặc biệt có một mâm hoa quả bằng hình vẽ mà trước đó, nguyên một ngày, ông tù nhân Lê-Thanh, họa sĩ kiêm điêu khắc gia có tiếng trong quân đội miền Nam “thua cuộc”, đã phải vẽ trên cả chục bản để ông cai tù trưởng trại lựa chọn.
Sau khi đã nhuần nhuyễn nói về tài thao lược và đạo đức của “bác”, trưởng trại để ý thấy tù nhân xì xầm về bức họa trái cây kia, ông bèn rất là trân trọng và tự tin nói rằng: “bác thường dạy “trong đấu tranh gian khổ, tính chất khắc phục là quan trọng”, cho nên khả năng “biến không thành có, biến khó thành dễ” là thành tích luôn được biểu dương, khen thưởng”!
Giỗ “bác” hôm nay, “bác” được ăn hoa quả giấy. Quả nhiên gậy “bác” đập lưng “bác”! Phần tù nhân, nghe xong chỉ thấy họ lặng im. Tôi đoán họ đang nghĩ đến nhờ ngày giỗ “bác”, bữa ăn trưa nay được tăng thêm trọng lượng.
Ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) nằm cạnh tôi kể chuyện anh: “Bọn công an (bắc kỳ 2nút) cùng người giúp việc nhà anh, là chị đã xin nghỉ việc vài ngày sau 30/4/1975, đạp cửa bước vào và lớn tiếng hỏi anh: “lương lính, quân hàm thiếu tá, một tháng anh lãnh bao nhiêu? Anh trả lời chỉ vừa đủ sống cho hai vợ chồng và năm đứa con. Tên công an quát lớn: chỉ đủ sống thì làm sao anh có cái nhà to thế này? Đây là anh đã lấy của nhân dân, vậy bây giờ anh phải trả lại cho nhân dân. Anh có ba ngày để dọn ra khỏi căn nhà này.”
Một hơi thở dài, rồi một cơn ngủ thiếp của một ngày “chém tre, chặt gỗ trên ngàn, hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai” của ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) đã thay cho phần kết của chuyện kể mà tôi thiển nghĩ, những người dân miền Nam, cái đất nước ở sau con sông Bến-Hải kia đều đã biết cái số phận căn nhà đó ra sao.
Những ngày vừa qua, nhân lễ kỷ niệm 50 năm anh em Tổng Thống Ngô-đình-Diệm bị sát hại, vài đài truyền hình có chiếu lại hình ảnh của gần một triệu người bắc kỳ (9 nút) bồng bế, gồng gánh, mang theo những chổi cùn, rế rách, luộm thuộm dắt díu nhau lên con tàu “há mồm” xuôi nam. Sau đó họ được định cư ở những vùng xa, vùng sâu, hoang vu hẻo lánh, lập nghiệp. Mơ ước cư ngụ ở giữa thành phố ồn ào, xôn xao, đối với họ chỉ là hoài bão.
Thế còn 30-4-1975, bắc kỳ (2 nút) xuôi nam thì sao? Vai đeo súng, tay cầm dao, nghênh ngang tràn vào thành phố cướp của, lấy nhà, chiếm đoạt, chễm chệ ở trong những căn nhà lớn ngay giữa thị thành. Áp đẩy khổ chủ đến vùng xa, vùng sâu có tên gọi là “kinh tế mới”! Cái tư thế “chễm chệ” kể trên, mỗi ngày một phát triển lớn, tới độ, bây giờ 38 năm sau, gần như toàn thể những thành thị ở miền nam, trên những đường phố lớn, trong những căn nhà to, chủ nhân đều là bắc kỳ (2 nút). Như vậy, chẳng phải rõ ràng bắc kỳ (2 nút) không những chỉ thắng bắc kỳ (9 nút), mà còn thừa thắng xông lên, áp đảo luôn cả những nam kỳ chủ nhà, không nút nào hay sao?
Tên công an chính trị viên, phó trại giam, tốt nghiệp viện triết học Marx, trong đối thoại về chủ nghĩa Cộng-Sản, hỏi tôi rằng “chân lý có thay đổi không?” Tôi trả lời: “đã là chân lý thì không thay đổi”. Hắn cười.
Hôm nay, hắn đúng, tôi sai. Chân lý của Marx quả đã thay đổi. Thế giới C/S của Marx đã xây dựng gần một thế kỷ, hoàn toàn sụp đổ. Học trò của Marx đã chia tay ý thức hệ với Marx, lũ lượt bỏ chạy qua vùng đất tư bản, thấy của cải vật chất phong phú thừa thãi mà chóng mặt, hoa mắt nên làm càn làm loạn”. “Hy sinh đời bố, củng cố đời con”, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước, gia sức trấn lột, cướp bóc, lừa bịp, điên đảo, tham nhũng bừa bãi, trơ tráo tới độ vô văn hóa, vô nhân tính.
Trở lại con số 9 nút (1954) và con số 2 nút (1975) mà người ta mệnh danh là bắc kỳ cũ và bắc kỳ mới, với những chuyện xảy ra ở trên một đất nước xa Hà-Nội tới ngàn dậm này: Đất nước Hoa-Kỳ.
“Này chị kia, ở nước Mỹ chợ nào cũng có chỗ cất shopping- car, sao chị lại bỏ bừa sau xe của tôi?ˮ “Cứ tự nhiên như ở Hà-Nội!ˮ, “Nhà tôi” (bắc kỳ 9 nút), bực mình la lớn. Hai bà (bắc kỳ 2 nút) tỉnh bơ, nổ máy xe biến mất. Còn lại là hai tôi, mỗi người đẩy một xe đưa vào chỗ cất.
Một lần khác, người bạn tôi kể rằng “Đi chợ, mua vội, tay chỉ cầm có hai gói cà-phê, đang xếp hàng chợt một chị bắc kỳ (2 nút) chen ngang vào đứng trước anh, anh phản đối thì chỉ hỏi lại: “xe của ông đâu?” Anh giận quá la lớn: “Đây là ở nước Mỹ, mua nhiều hay ít đều phải xếp hàng chứ không phải ở Hà-Nội của chị”.
Tại một nhà hàng, cháu gái của tôi cầm tờ biên lai tính tiền do bạn trai là người Mỹ trả, tới nói với người thâu ngân rằng: “chúng tôi gọi hai tô bún thịt nướng chứ đâu phải chả cá thăng-long mà tính nhiều thế này?” thì được thâu ngân viên buông gọn một chữ “nhầm”, rồi đếm tiền hoàn lại, không một lời xin lỗi. Tôi đoán chắc người Hà-Nội, chủ nhân (2 nút) tưởng Mỹ khờ khạo (đã bị bác và đảng đánh bại), nên mập mờ đánh lận con đen.
Trên đường về nhà, dọc hai bên đường, ở giữa lòng cái thủ đô có tên Little Saigon này, lác đác những căn nhà to như dinh thự mà người Hà-nội đã bỏ tiền triệu để sở hữu một cách ngạo nghễ, khiến tôi chợt nhớ đến ông chiến hữu bại trận của tôi năm xưa đã phải “trả nhà cho nhân dân” (nhân dân Hà-Nội), mà xót xa!
Tôi miên man tự hỏi, chẳng lẽ từ niềm tự hào “đánh thắng hai đế quốc lớn” của người Hà-Nội đang được thể hiện một cách ngang ngược, lỗ mãng, vô văn hóa ngay giữa cái thủ đô của người Việt tị nạn trên đất nước Hoa-Kỳ này đến vậy sao? Lý do gì họ có mặt nơi này? phần đất nơi cư ngụ cuối cùng, mà những người hoảng sợ đã phải bỏ nhà bỏ của để chạy xa họ? Tôi đang nghĩ đến người con gái bắc kỳ (9 nút) ở đất Hố-Nai Biên-Hòa năm xưa. Tôi ước ao được gặp lại cô ở nơi này, nơi cư ngụ cuối cùng của những người kinh hoàng, hoảng hốt bỏ lại quê hương, chạy trốn những kẻ bạo tàn! Tôi muốn lại được nghe cô nói rằng “Các anh hãy đi cho khuất mắt tôi, tôi đã sợ các anh quá rồi, chạy xa các anh tới nửa vòng trái đất mà các anh vẫn không buông tha!”
Ông nhà văn Hoàng-hải-Thủy của miền nam cũ, mới đây cay đắng than rằng “Nếu một ngày nào đó trên đất nước Hoa-Kỳ này, giữa nơi ở của những người Việt tị nạn có phất phới lá cờ đỏ sao vàng thì xin cho tôi được chết trước!” Nghe mà xót xa cay đắng quá! Mong là con bài 2 nút sẽ không thắng ngược 9 nút thêm lần nữa!
Quận Cam 11/2013
Nguồn: https://www.facebook.com/ngbatngan/posts/10201400349963810

Lập trường của hội CTNLT sau 2 buổi làm việc với chính quyền VN

 
Lập trường của Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm sau hai buổi làm việc chính thức với chính quyền Việt Nam
This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1012x1024.




Thông cáo báo chí



CTNLT | 26/04/2014

Ngày 24/4/2014 chính quyền VN đã mời CTNLT Phạm Bá Hải làm việc về các hoạt động liên quan đến Hội CTNLT VN [cựu tù nhân lương tâm Việt Nam].

Đoàn làm việc của chính quyền gồm ông Đại tá Trần Hanh – Thủ trưởng Phòng bảo vệ chính trị PA67, CA TP HCM, tháp tùng là một trung tá, và một đại úy điều tra của Phan Đăng Lưu, cùng có mặt các viên an ninh huyện Hóc Môn và trưởng, phó công an xã. Giấy mời đã được gửi trước đó 3 ngày do trưởng CA xã ký, ghi lý do là an ninh trật tự.

Với tư cách là Điều phối viên của Hội, CTNLT Phạm Bá Hải đã trao đổi và trả lời tất cả các câu hỏi về Hội CTNLT, qua đó trình bày quan điểm và hình thức sinh hoạt của Hội trong việc vận động cải thiện nhân quyền, hoạt động nhân đạo và kêu gọi thả tự do cho các tù nhân lương tâm bằng phương thức ôn hòa.


Hội CTNLT VN xác nhận các diễn tiến và lập trường chung như sau:
1. Hội CTNTLT không do một cá nhân hay một tổ chức nào chủ xướng sáng lập. Các mối quan hệ giữa các cựu TNLT với nhau và thân nhân gia đình của TNLT đã có từ rất lâu và nó được liên kết chặt chẽ hơn theo năm tháng. Cụm từ “tù nhân lương tâm” được Ân xá Quốc tế dùng để gọi những người vận động ôn hòa cho các nhân quyền cơ bản nhưng lại bị giam cầm. Khi các CTNLT trao đổi, họ đã nhanh chóng đi đến kết luận cần ra đời một tổ chức để họ có thể sinh hoạt. Đó là sự đồng tâm nhất trí của 68 thành viên sáng lập Hội CTNLT.

2. Mọi phương tiện bạo động đều nằm ngoài chủ trương của Hội CTNLT. Các hội viên đều là những người cam kết tiếp tục sống theo lương tâm, vì lương tâm mà hành động trong phương thức ôn hòa. Tất cả những công dân VN từng vào tù vì các hoạt động ôn hòa đòi nhân quyền đều là đối tượng gia nhập hội. Hiện Hội đã có tất cả 83 hội viên. Hội CTNLT không có mục tiêu lật đổ chính quyền hay tuyên truyền chống nhà nước mà là kêu gọi một cuộc cải cách pháp luật để tôn trọng hơn nữa các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế mà VN đã ký kết.

3. Chúng tôi cam kết đấu tranh cho một nước VN không còn bất kỳ một TNLT nào. Vận động chính quyền VN thay đổi pháp luật nhằm tôn trọng hơn nữa quyền con người, qua đó thả tất cả các TNLT. Các hành vi không tôn trọng giá trị quyền con người đều dẫn đến man rợ, đói nghèo, lòng người phẫn uất, lương tâm kêu gào. Chúng tôi hoan nghênh chính quyền VN đã thả 5 TNLT trong thời gian qua: Đinh Đăng Định, Nguyễn Hữu Cầu, Cù Huy Hà Vũ, Vi Đức Hồi và Nguyễn Tiến Trung và các nhượng bộ khác khi cải thiện điều kiện giam cầm vài nơi, nhưng chúng tôi cũng lên tiếng phản đối mạnh mẽ nhiều nơi vẫn còn hà khắc, đàn áp các tù nhân khi họ không nhận tội hoặc bị từ chối chữa trị bệnh trong điều kiện có thể. Đó là trường hợp của Tạ Phong Tần, Mai Thi Dung, Đỗ Thị Minh Hạnh, Hồ Thị Bích Khương.

4. Các cuộc gặp gỡ XHDS [xã hội dân sự] thường kỳ mỗi tháng vẫn được tiếp tục duy trì. Hội CTNLT mời gọi tất cả các cá nhân, nhóm, hội tham dự chia sẻ quan điểm, sự vụ của riêng mình để cùng nhau tìm một phương thức tốt nhất kêu cầu chính quyền quan tâm hơn nữa giải quyết các vụ việc bất công tồn tại, lắng nghe các bức xúc và tiến hành thay đổi, giải quyết.Ngày 28/3/2014 ông Konstantin von Mentzingen, chuyên viên phụ trách quan hệ EU với ĐNÁ của UB đối ngoại Châu Âu, từ Bỉ quốc đã sang Sài Gòn để gặp mặt hai thành viên Hội CTNLT Phạm Chí Dũng và Phạm Bá Hải, tháp tùng với ông là bà Delphine Malard, Tham tán thứ nhất của Phái bộ Đại diện Âu châu tại Hà Nội. Cuộc trao đổi đã đề cập nhiều vấn đề về quyền tự do tôn giáo, tự do đi lại, tự do bày tỏ chính kiến, đặc biệt chúng tôi nhấn mạnh đến quyền tự do họp mặt ôn hòa. Hội CTNLT đã chính thức yêu cầu Cộng đồng Âu châu bảo trợ cho các cuộc gặp gỡ XHDS hằng tháng này. Chúng tôi cũng lên án mọi hành vi dùng bạo lực để ngăn chặn các cuộc gặp gỡ của những người bất đồng chính kiến, các blogger, những người bảo vệ nhân quyền đã xảy ra trong thời gian gần đây. Cụ thể, ngày 19/4/2014 Café nhân quyền do MLB VN [mạng lưới blogger Việt Nam] tổ chức đã bị đàn áp, Paulo Thành Nguyễn và vợ Trịnh Kim Tiến đã bị đánh và tát khi bị cưỡng chế đưa về đồn.

Chúng tôi hoan nghênh chính quyền đã không cản trở các chị em Hội PNNQ [phụ nữ nhân quyền] viếng thăm các tù nhân lương tâm ở miền tây, nhưng mới đây tại phiên tòa phúc thẩm hai dân oan Cần Thơ ngày 22/4, bà Trần Thị Hài và chị Nguyễn Ngọc Lụa đã bị đánh đập và đã phải nhập viện.

Hội CTNLT tái khẳng định quyền gặp gỡ ôn hòa là một trong các quyền căn bản mà chính quyền VN cần phải nghiêm túc thực thi và tôn trọng.

5. Việc chính quyền mời làm việc, tiếp xúc các thân nhân trong gia đình người bất đồng chính kiến để làm áp lực họ ngăn cản các hoạt động của người bất đồng chính kiến là hành động đi ngược lại các cam kết mà VN đã khẳng định tại Hội đồng nhân quyền LHQ. CTNLT Phạm Bá Hải đã nhiều lần viết đơn xin xây nhà nhưng không được phép, khi nhu cầu cần mở rộng nhà cũ để ở thì bị chính quyền ngăn trở. Ngày 10/4/2014 họ đã thành công khi thực hiện quyết định cưỡng chế phá dỡ phần xây mở rộng thêm 11 mét vuông. Sau đó vài ngày, chính quyền đã mời cha già (84 tuổi) và người anh của Phạm Bá Hải lên đồn công an để làm việc, trong khi các công việc bảo vệ nhân quyền của anh Hải không hề có liên can đến gia đình. Tuyên ngôn Người bảo vệ nhân quyền LHQ 1989, Điều 10, ghi “Không ai có trách nhiệm, khi bị yêu cầu, tham gia hành động xâm hại nhân quyền và các quyền tự do căn bản; và không ai phải chịu sự trừng phạt hay hành hạ, dưới bất cứ hình thức nào, vì từ chối làm theo như vậy”. Trong chiều hướng chính quyền quấy nhiễu thân nhân các thành viên Hội CTNLT ngày càng nhiều, chúng tôi cực lực phản đối hành vi xâm phạm này và tiếp tục theo dõi, báo cáo đến các tổ chức nhân quyền quốc tế và các quốc gia quan tâm đến nhân quyền VN.

6. Kết thúc hai buổi làm việc, chính quyền đã cảnh báo việc hình thành và hoạt động của Hội CTNLT VN là bất hợp pháp vì chưa được phép của chính phủ. Họ khuyến cáo các hoạt động cần phải tuân thủ pháp luật VN và cuối cùng, viên sỹ quan của Phòng bảo vệ chính trị đã yêu cầu các hoạt động của Hội phải nằm trong khuôn khổ ôn hòa. Hội CTNLT xác quyết: Xu hướng hình thành các tổ chức XHDS tách rời khỏi sự quản lý của nhà nước là tiến trình tất yếu phù hợp với Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Nhà nước Việt Nam đã ký kết năm 1982, Điều 69 Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp sửa đổi năm 2013 về quyền tự do lập hội. Xu hướng này cũng giúp tạo sự cân bằng cho các thành phần khác nhau trong xã hội về quyền lợi, giá trị nhân phẩm và phát triển. Chúng tôi kêu gọi chính quyền cần phải hợp thức hóa Hội CTNLT và các tổ chức khác bằng một cơ chế thông thoáng, hỗ trợ cho các tổ chức này hoạt động, giúp xã hội dân chủ hơn và người dân hạnh phúc hơn trong việc thực thi các quyền căn bản của con người.

7. Hội CTNLT vận động duy trì phương thức đối thoại nhân quyền với chính quyền VN. Chúng tôi cáo buộc các vụ việc vi phạm nhân quyền, trong khi phía chính quyền gọi là những người vi phạm pháp luật. Các cuộc tiếp xúc đối thoại nhân quyền của Hội CTNLT với chính quyền, và cùng các tổ chức nhân quyền quốc tế hay các quốc gia quan tâm về nhân quyền tại VN sẽ là giải pháp khả quan cho thăng tiến nhân quyền trên toàn cõi VN.
Ngày 26/4/2014
Ban Điều hành Hội CTNLT VN
Nguồn: fvpoc.org  

 
Tướng 1 sao
Hội này duy trì bất bạo động dù cho bọn tà quyền có đánh đập dã man thì vẩn chịu đựng, chỉ đối thoại nhân quyền với tà quyền để CŨNG CỐ và XÂY DỰNG lại một nước CỘNG SẢN tiến bộ văn minh, mục tiêu chính của hội là KHÔNG MUỐN THAY THẾ TÀ QUYỀN CỘNG SẢN, chỉ muốn DUY TRÌ CHẾ ĐỘ TÀ QUYỀN CỘNG SẢN này mà thôi, trên thế giới từ trước đến nay chưa có một đất nước nào dưới chế độ cộng sản mà tốt đẹp cả, như vậy hội CTNLT này hãy chờ hết thế kỷ này xem có tạo cho tà quyền CSVN làm được một vài việc đúng như những quốc gia tự do trên thế giới làm hay không, hay giúp cho tà cộng VN sớm làm NÔ LỆ Tàu KHỰA mà thôi, hội này chỉ giúp cho tà quyền CSVN lấy điểm với quốc tế mà thôi, để cho thấy VN có tự do có những tổ chức DSXH v.v... giống thích nhứt Hạnh đã đưa làng Mai về VN tổ chức rình rang để cộng nô VN cho thế giới thấy VN có tự do tôn giáo, sau khi cộng nô VN vô VV.T.O thì "thích bầy Gái" "lang môn" cũng ra rìa luôn .

Last edited by hoainamtran; hôm qua at 05:32 AM.
  
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=28449