Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

Kissinger Xác Nhận “ Hoa Kỳ Tự Trói Tay Đ ể Thua CSVN Chứ Khôn g Do VNCH”

 

Kissinger Xác Nhận “ Hoa Kỳ Tự Trói Tay Đ ể Thua CSVN Chứ Khôn g Do VNCH”

Posted on Tháng Mười 27, 2013 bởi
4

Sau hơn ba mươi bảy năm VNCH bị sụp đổ tính từ ngày 30-4-1975, nhưng tới nay vẫn còn nhiều tác giả ngoại quốc khi viết về cuộc chiến trên,vẫn cứ dựa vào các tài liệu tuyên truyền của cộng sản, nên thường lý luận một chiều, đôi lúc thật hàm hồ bừa bãi. Chính những cuốn sách này, đã khiến cho ai khi đọc tới cũng đều có cái cảm tưởng là “ Những người lãnh đạo nước Mỹ lúc đó toàn ngu xuẩn hay điên rồ “, nên mới bị sa lầy và tháo chạy khỏi miền Nam, vào ngày 30-4-1975 một cách nhục nhã . Riêng đối với người Mỹ qua thói quen tự cao tự đại, sau khi tháo chạy khỏi chiến trường Đông Dương để bị mang tiếng bội tín với thế giới tự do, vì không giữ được lời hứa “ bảo đảm quyền sống tự do của đồng bào Nam VN, Lào, Cambốt “. vẫn cứ phải loay hoay giữa “ tự ái và lương tâm “ khi muốn giải đáp trước công luận, lý do tại sao “ Một cường quốc bách chiến bách thắng như Mỹ lúc đó và ngay cả ngày nay “, lại có thể bị thua trước một đối phương nhỏ bé, lạc hậu như cộng sản Bắc Việt? cho dù đối phương có được Nga, Tàu viện trợ và chống lưng.
Ngày nay nhờ những khai quật từ các văn khố khắp thế giới, nhất là sự sụp đổ của gần hết khối xã hội chủ nghĩa trong đó có Liên Xô và các nước Ðông Âu nhưng quan trọng nhất vẫn là những bản tự khai của các chóp bu tại Bắc Bộ Phủ, cho ta nhận rõ phần nào giải đáp trên, khi đã biết rõ thực chất của cuộc chiến Việt Nam (1955-1975). Tất cả từ đầu cho tới cuối, hoàn toàn“không ăn nhập gì tới lòng ái quốc, yêu nước thương dân “, mà báo chí Tây Phương thường gán ghép để có cớ ca tụng Hồ Chí Minh và đảng VC trong suốt cuộc chiến, vì họ bị tuyên truyền một chiều. Nay sự thật đã bị phanh phui, gây chiến tại Ðông Dương lần thứ 2 (1946-1975), thật sự “ là không cần thiết lúc đó “.
Vì đối với Liên Xô thời đó, gây chiến “lại là kế hoạch nô lệ hoá toàn cầu của cộng sản đệ tam quốc tế “. Ðiều này ngày nay cũng đã được nhiều cán bộ cao cấp của VC như Trần Bạch Ðằng, Võ Văn Kiệt.. xác nhận. Còn hậu cứ lớn không phải tại Hà Nội, mà ở tận Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh, được Hồ Chí Minh cùng đồng đảng mang về bành trướng khắp nước. Sứ mạng của Hồ đã hoàn thành một phần, ít ra là đã nhuộm đỏ được ba nước Việt-Lào-Cao Mên trên bán đảo Ðông Dương. Nhưng chiến thắng không phải do quân sự mang tới, mà nhờ vào “ sự hèn nhát thụ động, của tập thể quần chúng trong vùng “, vì sợ sự khủng bố tàn độc của chủ nghĩa cộng sản nên cúi đầu tùng phục, để được yên ổn sống, dù là kiếp sống nô lệ hèn thừa bên lề đường như hiện tại trong thiên đường xã nghĩa VN.
Do đó, hầu hết đã phó mặc vận mệnh của đất nước, của chính bản thân và gia đình mình cho ai muốn làm lãnh tụ cũng được, coi đó như là chuyện không có liên can gì tới họ. Tóm lại “Chiến tranh VN vừa qua “ là một cuộc chiến vô cùng phức tạp, giống như Pháp năm 1954, người Mỹ đã thua cộng sản trong mặt trận ý chí tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn và tàn nhẫn bất công ngay trên đất nước mình, chứ không phải ở chiến trường Ðông Dương. Cũng từ đó, người Mỹ thường nhắc nhớ tới thành ngữ ‘ No more Việt Nam ‘ như một thứ mặc cảm tội lỗi, luôn đè nặng đất nước Hoa Kỳ, cho tới lúc Tổng thống Reagan vào ngày 21-5-1982, khai sinh một nước Mỹ mới, khi tuyên bố chiến lược tấn công, để ngăn chận sự bành trướng của khối cộng sản quốc tế.
Từ đó người Mỹ mới thôi cúi mặt và bắt đầu phục hồi danh dự cho những chiến binh Hoa Kỳ, đã tham chiến tại VN từ 1955-1975 và gọi đây là một trong những cuộc chiến chính nghĩa vĩ đại nhất, mà nhân dân Hoa Kỳ đã thực hiện được kể từ ngày lập quốc tới nay. Ðối với VNCH dù người lính miền Nam đã hy sinh tột đỉnh nhưng cũng chỉ giữ được nửa mảnh đất quê hương từ Bến Hải vào tới Cà Mâu, vỏn vẹn chỉ có hai mươi năm trường kỳ máu lệ.Tất cả “ không phải vì QLVNCH không chịu chiến đấu trước kẻ thù, hoặc Miền Nam không có tướng tài và cấp lãnh đạo xứng đáng sau khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị sát hại hay Chính Phủ VNCH không có chính nghĩa như Thượng Nghị Sĩ Mỹ là Mc.Cain từng tuyên bố trên báo chí..” mà là NƯỚC MẮT NHƯỢC TIỂU VN.
Nói đúng hơn, chúng ta đã bị Thực Dân Mới nhân danh Liên Hiệp Quốc, bán đứng trong canh bài phân chia ranh giới chính trị, quân sự giữa hai khối tư bản và cộng sản, đã sắp xếp sẵn sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến kết thúc. Nhiều nước Ðông Âu kể cả Ðức cũng chịu chung số phận nhược tiểu như VN và Cao Ly, khi nằm trong thế cờ quốc tế đã định đoạt sẵn. Nhưng may thay Họ đã tự mình tháo gỡ được gông cùm nô lệ cộng sản vào đầu năm 1990, khi Liên Bang Sô Viết và phần lớn khối cộng sản đệ tam quốc tế tan rã.
Tháng 7-1954, Pháp thua trận Ðiện Biên Phủ đưa tới thỏa hiệp Genève chia hai đất nước VN, giống như tình trạng của Ðức và Cao Ly năm 1945. Theo nhận xét của GS người Mỹ Hans Morgenthau, thì đây là trò che đậy sự bất đồng, cũng là sự phân chia sẵn ranh giới chính trị, quân sự giữa khối cộng sản và Tây Phương, sau khi kết thúc đệ nhị thế chiến. Tại Châu Âu, từ năm 1947 Liên Xô xé bỏ cam kết , mặc sức tung hoành, dùng quân sự lần hồi cưỡng chiếm các nước quanh vùng, dựng khối Ðông Âu, cô lập trong bức màn sắt .
Tây Bá Linh và hai nước đồng minh của Mỹ lúc đó là Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ cũng bị nguy khốn, sắp rơi vào tay cộng sản. Ðể đối phó với tình trạng trên, Tổng Thống Mỹ Truman buộc lòng phải ban hành chiến lược ‘ Ngăn Chặn’, đồng thời khai sinh chương trình ‘ Marshall’ , viện trợ giúp cho các nước Tây Âu phục hồi kinh tế, quân sự đã bị thế chiến tàn phá. Song song Mỹ và các nước trên thành lập Tổ chức Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương, nhằm liên kết quân sự, để bảo vệ lẫn nhau và chống lại sự xâm lăng của Liên Xô và khối cộng sản quốc tế.
Nói chung những nước nào được Mỹ khoanh vùng, thì được gọi là Ðồng Minh và tận tình bảo vệ như Cao Ly và Ðài Loan ở Viễn Ðông. Nhưng dù chiến tranh có xảy ra dưới một hình thức nào chăng nửa, kể cả cuộc chiến thế giới tại bán đảo Triều Tiên năm 1950, thì chủ trương của nước Mỹ qua tuyên bố của Tổng Thống Truman, chỉ để‘ tái lập hòa bình và biên giới sẵn có đã được qui định từ trước’. Ðây cũng là chiến lược của Mỹ khi tham chiến tại VN từ 1960-1975, qua nhiều đời tổng thống của lưỡng đảng, chỉ nhằm mục đích “ ngăn chận làn sóng đỏ đừng lấn qua ranh giới đã phân chia sẵn “, chứ không phải tới để giúp cho VN “ giải phóng khỏi ách nô lệ cộng sản “.Vì vậy cuối cùng để hoàn thành chiến lược, cần phải thương thuyết hòa bình, chứ không phải đánh nhau để kết thúc chiến tranh tại đó, khi người Mỹ đã đạt được chiến lược toàn cầu, có lợi cho quyền lợi của nước Mỹ.
Ðiều bất hạnh nhất của dân tộc VN mà bất cứ ai cũng nhận thấy, là đã có chung biên giới với nước Tàu. Ðã vậy còn bị lọt vào quỷ đạo của người Mỹ, khi Hoa Lục và Bắc Việt bị nhuộm đỏ . Nên vừa nhậm chức Tổng Thống Mỹ, Eisenhower đã tuyên bố không để mất Ðông Dương vì đây là một trong những quân bài Domino toàn vùng Ðông Nam Á, mà VN là tiền đồn quan trọng nhất. Còn John Kennedy, từ lúc còn là thượng nghị sĩ vào năm 1956 cũng đã coi VN rất quan trọng trong chiến lược quốc phòng của Hoa Kỳ, qua các yếu tố địa dư chính trị. Vì vậy khi đắc cử Tổng Thống, Ông đã chọn Miền Nam VN làm một thí điểm tại Châu Á, để thực thi nền dân chủ tự do chống lại chủ nghĩa độc tài khủng bố cộng sản.
Ðây cũng là một cuộc trắc nghiệm đầu tiên sau hai cuộc thế chiến vừa qua, để đo lường về ý thức trách nhiệm cùng bổn phận của siêu cường Mỹ đứng đầu khối tự do.. chống lại chủ nghĩa cộng sản. Nhờ vậy ngày nay người ta mới có được những kết luận rất mẫu mực, về cái gọi là “chính nghĩa mập mờ của người Mỹ tại chiến trường VN “, nói là để giúp dân tộc này chống lại cuộc xâm lăng của Bắc Việt. Tất cả chỉ là “ một chiến lược què quặt bất nhất “, do một mặt “ thì sợ dư luận của quần chúng Mỹ phản đối bị mất phiếu..”, mặt khác” cứ ham muốn đạt nhanh chiến thắng tại chiến trường “ nhưng lại không cho phép phe mình tấn công tiêu diệt địch quân, với lý do “ sợ đụng độ với Trung Cộng“. Ngoài ra các vị Tổng Thống có liên quan tới chiến tranh VN như J.Kennedy, Johnson, Nixon và Ford đều chỉ xử dụng những phương tiện nhỏ để đòi đạt chiến thắng lớn, nên cuối cùng phải bị sa lầy về mặt đạo đức, làm cho nước Mỹ bị thế giới cười chê về thủ đoạn con buôn chính trị, từ sau tháng 5-1975 tới nay vẫn chưa lấy lại được uy tín cũ đã đánh mất tại VN.
Nhưng dù tại chiến trường VN trước năm 1975, Hoa Kỳ không hề bị sa lầy vẫn phải đóng kịch tháo chạy vì mục đích nối kết với Trung Cộng, phá vỡ thế liên hoàn Nga-Hoa đã hoàn thành từ 1972..
1. Hoa Kỳ Không Bao Giờ Sa Lầy Tại Nam VN
Sau khi rời khỏi chính trường năm 1977, Ngoại trưởng kiêm cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, nhân vật mang tiếng đã manh tâm bán đứng VNCH cho khối cộng sản đệ tam quốc tế, đã lần lượt xuất bản nhiều tập hồi ký chính trị như : Những năm tháng ở Bạch Cung (1979), Niên đại sóng gió (1982) và Bí Lục Kissinger.. đã hé mở nhiều bí ẩn lịch sử cận đại về các thời kỳ chiến tranh lạnh giữa Mỹ-Liên Xô-Trung Cộng, Chiến tranh VN và cuộc thăm viếng Trung Cộng của Tổng thống Mỹ Richard Nixon vào tháng 2-1972, trước khi Hà Nội mở cuộc tấn công mùa hè vào các tỉnh Quảng Trị-Bình Long và Kon Tum, Bình Ðịnh của VNCH.
Cũng nhờ những tiết lộ này, mà ngày nay ta mới biết được bộ mặt thật của cặp Nixon-Kissinger, chỉ vì lợi lộc của riêng mình đã bán đứng đồng minh bạn bè cho kẻ thù. Vì muốn kéo Trung Cộng vào phe cánh, Hoa Kỳ qua Nixon-Kissinger đã chủ động đề nghị viện trợ tối đa cho Tàu tất cả những quân dụng vũ khí chiến lược, kể cả cung cấp vệ tinh để Tàu thu lượm tin tức tình báo từ Liên Xô. Theo Bill Burr, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề ngoại giao của Mỹ, thuộc Ðại Học Washington, cũng là chủ biên hồi ký Bí lục Kissinger, cho biết cuộc đi đêm bí mật của Kissinger tại Bắc Kinh , khởi đầu từ năm 1971 qua đề nghị Hoa Kỳ sẽ thiết lập một chương trình vệ tinh tình báo để tặng Trung Cộng.
Sau đó tại trụ sở LHQ ở New York vào tháng 12-1971, Kissinger đã cho Hoàng Hoa nhiều tin tức liên quan tới quân sự của Liên Xô để chuyển về Tàu. Tuy vậy để che mắt Liên Xô và thế giới, Hoa Kỳ cũng như Trung Cộng luôn đóng kịch kình chống nhau tại bàn hội nghị. Như trường hợp VN, trước khi Tổng thống Nixon chính thức thăm Trung Cộng và sau này, Kissinger đã bí mật tới Bắc Kinh rất nhiều lần để gặp cả Mao-Chu và Trung Cộng cũng đã đáp ứng cho Mỹ thiết lập một trạm tình báo quân sự, dọc theo biên giới Nga-Hoa để thu lượm tin tức, theo dõi tình hình chuyển động của Liên Xô.
Tháng 7-1973, một điệp viên CIA tên James Lilley được cử giữ chức trưởng trạm tình báo này, cũng là người trực tiếp phụ trách đường dây liên lạc Trung-Mỹ. Tháng 4-1975 theo yêu cầu của Ðặng Tiểu Bình, Tổng thống G.Ford đã viện trợ cho Trung Cộng rất nhiều quân trang dụng chiến lược, trong đó có nhiều thiết bị điện tử dùng để chế tạo vũ khí bom đạn hiện đại. Kissinger còn tiết lộ nội dung cuộc họp thượng đỉnh giữa Nga-Mỹ cho Trung Cộng. Tất cả cho thấy mức độ khả tín của người Mỹ trong lúc cùng hợp tác đồng minh, để từ đó chúng ta mới nhận diện rõ ràng “ về ý nghĩa của sự sa lầy tại VN “, mà các sử gia trong và ngoài nước thường hay gán ghép cho Hoa Kỳ.
Ðọc lịch sử nước Mỹ, ta thấy dù dân chủ hay cộng hòa, tổng thống hèn kém như Carter hoặc cứng rắn cỡ Reagan, thì ưu tiên số 1 của chính phủ cũng vẫn là làm sao cho dân chúng Hoa Kỳ được hưởng thụ nhiều hơn trước, để đảng nọ đảng kia mới còn cơ hội tái đắc cử cầm quyền tiếp. Hiểu thêm điều này nữa, mới cảm thấy bớt uất nghẹn khi biết Tổng thống Johnson đã đưa vào VN tới 550.000 quân + 80.000 của các nước Ðồng Minh và 150 tỷ đô la chiến phí. Rồi đang lúc VNCH sắp đạt được chiến thắng cuối cùng, qua các trận đại chiến vào Tết Mậu Thân 1968, các cuộc hành quân Toàn Thắng vượt biên giới sang Kampuchia 1970 và nhất là trận Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972.. thì Tổng Thống Mỹ là Nixon, kế thừa chiến lược của TT.Johnson lại ký Hiệp ước ngưng bắn Paris 1973 “ tháo chạy khỏi VN “, bỏ mặc cho Miền Nam bị toàn khối cộng sản đệ tam quốc tế” cưỡng đoạt vào trưa ngày 30-4-1975”.
Ngày nay nhờ Quốc Hội Mỹ đã thông qua đạo luật ‘ Quyền tự do tư liệu và thông tin’, nên Thư Viện Quốc Gia Mỹ đã giải cấm những văn kiện tuyệt mật, có liên quan tới cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1945-1975), qua nhiều đời Tổng Thống Mỹ liên hệ, từ Truman cho tới Carter.. Nhờ vậy người ngoài mới biết được những bi hài kịch đã diễn ra suốt thời gian Mỹ tham chiến tại VN, ngay trong hậu trường của những chóp bu tại Tòa Bạch Ốc, mà những nhân vật quyết định vận mạng của VN , phần lớn là Dân Sự hay Chuyên Viên Hành Chánh, trong đó hầu hết chưa một ngày ở trong quân ngũ hay trốn quân dịch như trường hợp của Tổng Thống Bill Clinton sau này.
Ðó là việc quân lực Mỹ chưa bao giờ được phép xử dụng hết khả năng chiến đấu, nhất là hai quân chủng Không và Hải quân Hoa Kỳ, chủ nhân ông của bất cứ chiến trường nào, rất được thế giới nể sợ. Còn một bí mật khác cũng không kém phần bi thảm, đó là khi Mỹ đưa quân đội mình tới chiến đấu ở VN, thì cũng đồng lúc tư bản Mỹ tha hồ xuất cảng quân trạng dụng sang Nga, các nước Ðông Âu lẫn Tàu. Sau đó các nước này thay nhãn đổi hiệu, rồi lại chuyển tiếp tới Hà Nội, để Bắc Việt chuyển vận vào Miền Nam cho Bộ đội Cộng Sản có phương tiện dồi dào , bắn giết chẳng những QLVNCH mà cả quân Mỹ và các nước đồng minh đang chiến đấu tại chiến trường.
Nói chung dù có thái độ cứng rắn như Tổng thống Truman, trước chủ nghĩa bành trướng sắt máu của Trùm Ðỏ Staline vào năm 1947 hay to miệng nhảy múa chống cộng cùng mình như Tổng thống Nixon, thì cuối cùng cũng vẫn là cùng thỏa thuận với nhau để chia chiến lợi phẩm trên xác chết của con mồi. Ðó là chân lý của nền chính trị con buôn kiểu tư bản Mỹ, vừa la làng xúi giục cũng như viện trợ để đồng minh chống cộng. Rồi cũng Mỹ lại rất tích cực buôn bán đủ thứ kể cả quân dụng vũ khí tối mật quốc phòng với các nước cộng sản trên.. như hiện tại cuộc giao dịch giữa Mỹ và hai nước Trung Cộng-Ðài Loan, ai cũng thấy. Ðây cũng là một chứng minh thực tế, để cho bất cứ ai còn đang mang ảo tưởng vọng ngoại, trong công cuộc quang phục đất nước khỏi gông cùm cộng sản, xin chớ có hoài công đợi chờ . Vì con đường giải thể chế độ VC hiện nay chỉ có toàn dân VN phải chịu lăn xả hy sinh đổ máu như người Miến, người Tạng..thì mới hy vọng tháo gỡ được cùm gông, vì chính họ trong quá khứ đã tự mình mang vào cổ ách nô lệ cộng sản.
2. Hoa Kỳ Tự Trói Tay Để Thua CS Bắc Việt, Chứ Không Phải Tại VNCH
Riêng về câu hỏi tại sao siêu cường Mỹ với một bộ máy chiến tranh ghê gớm , lại để cho 55.000 quân sĩ thiệt mạng và mấy trăm ngàn người khác bị thương ? cuối cùng tháo chạy, sau khi chỉ lấy được về nước, một số tù binh bị Bắc Việt cầm tù. Ðô đốc Grant Sharp, cựu tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đã giải thích‘ cuộc chiến thất bại không phải vì chống không lại địch quân, mà vì chính sách của Hoa Thịnh Ðốn đã đẻ ra quá nhiều chiến lược, nào leo dần tới đáp ứng, rồi đang mềm dẻo đột nhiên dội bom, sau đó tự ý ngưng và thương thuyết tại bàn hội nghị để đạt chiến thắng. Cuối cùng tự mình trói tay đầu hàng, rồi tháo chạy khỏi chiến trường, dù chẳng hề bị sa lầy hay bị lâm vào tuyệt lộ ’.
Ðây cũng là kết quả như lời cảnh giác của Tướng Maxwell Taylor, nguyên cố vấn quân sự của Tổng Thống J.Kennedy từ năm 1961 ‘ Nếu Hoa Kỳ tới VN với mục đích tối hậu, là giúp cho nước này chống lại sự xâm lăng của cộng sản, thì cuộc chiến sẽ không có giới hạn, nên chúng ta không thể không đánh thẳng ra Hà Nội, để tiêu diệt sào huyệt của chúng‘.Nhưng tiếc thay đất Bắc nơi phái sinh ra cuộc chiến VN, lại là vùng đất bảo đảm an toàn nhất, mà các tổng thống Mỹ dành cho VC.. Ðã vậy TT Johnson còn cấm quân Mỹ không được tấn công hay truy sát quân Bắc Việt, tại lãnh thổ Lào và Kampuchia giáp ranh với VN. Trong khi đó ai cũng biết trên phần đất này, Hà Nội đang mở đường mòn HCM, lập các khu hậu cần, mật khu, tích trữ lương thực quân dụng và tập trung quân để tấn công vào lãnh thổ VNCH.. Chính cựu Tổng thống Eisenhower cũng lên tiếng thắc mắc là tại sao TT. Johnson lại không dám tấn công thẳng vào đầu nảo của quân Bắc Việt tại Hà Nội, trong lúc đó hầu hết tướng lãnh Mỹ thì phẫn nộ, vì nhận được lệnh đánh nhau với VC phải đạt chiến thắng nhưng hai tay họ thì bị trói chặt bởi các luật lệ .
Có thể dùng thời điểm Tổng Thống Mỹ Eisenhower gởi thư thông báo cho Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm vào tháng 10-1954 với lời hứa giúp VNCH trở thành một quốc gia mạnh, trường tồn, có khả năng chống lại mưu toan xâm lăng của Bắc Việt.. như là một cột mốc quan trong về sự nhập cuộc của Hoa Kỳ tại VN. Năm 1961 lúc Tổng Thống J.Kennedy nhậm chức, quan điểm của nước Mỹ vẫn không thay đổi về việc Bắc Việt đang xâm lăng VNCH, qua hình thức lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.. Tuy nhiên trong thành phần chính phủ Mỹ lúc đó đã có nhiều khuynh hướng, như thay thế Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hay tăng cường viện trợ, quân sự kể cả gởi quân tới giúp VNCH chiến đấu chống lại sự xâm lăng của Hà Nội. Sự tự tin hiểu biết về tình hình VN của các tổng thống Mỹ, sau này được các nhà báo Norman Podhoretz, Theodore H.White.. mai mỉa là không nhũn nhặn mà cũng chẳng khôn ngoan chút nào, khi thật sự Hoa Thịnh Ðốn lúc đó không hiểu biết cho mấy về cái chiến trường VN nhỏ bé xa xôi tận miền Viễn Ðông, thế mà dám đề ra phương thức, chiến lược tràng giang, để giải quyết tình hình chính trị, xã hội, quân sự, kinh tế của đất nước ấy.
Ðiều này mãi tới năm 1981 mới thấy một sĩ quan cao cấp Mỹ nêu lên trong tác phẩm của mình ‘ chiến tranh tại VN là chiến tranh du kích, đáng lẽ ngay khi nhập cuộc, quân đội Mỹ phải hiểu rõ thực chất của cuộc chiến, để có chiến thuật chống khuynh đảo, diệt du kích, mà quân đội của các nước khác đều được huấn luyện học hỏi, trước khi nhập trận’.Tóm lại như Nixon đã nhận biết từ năm 1954, cộng sản dùng chiêu bài ‘ chiến tranh giải phóng‘, để mà xâm nhập và khuynh đảo chính trị tại Nam VN, chứ không bao giờ công khai vượt tuyến như tại Triều Tiên năm 1950. Thêm một điểm đặc biệt khác, là lúc đầu những người trí thức và khoa bảng Mỹ gần như thờ ơ không ngó tới việc Hoa Kỳ tham chiến tại VN.
Nhưng từ giai đoạn 1967 về sau, nhất là sự kiện cộng sản bị thảm bại trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, thì giới trên nhập cuộc qua phong trào phản chiến trên đất Mỹ, chống đối và đánh phá chính phủ dữ dội, còn hơn VC thứ thiệt ở VN cũng chưa thấy hoạt động công khai dữ dằn như phong trào phản chiến tại Mỹ. Ðây là một nghịch lý nổi bật và mai mỉa nhất của Mỹ, trong cuộc chiến VN. Ðó là sự kiện công dân Mỹ (như đào hát Jane Fonda chẳng hạn), đã công khai đứng hẳn về phía Hà Nội, cổ võ cho giặc chống lại quân đội và chính phủ mình, qua các cuộc biểu tình phản chiến, cầm cờ máu đốt cờ Mỹ, lên đài phát thanh truyền hình chửi bới hay tới tận Hà Nội để hoan hô Hồ Chí Minh.
Khi than rằng ‘ Chúng ta đã đánh bại chính ta ‘, đó là nhận xét của Tổng Thống Johnson về nước Mỹ và ngay cả bản thân mình, trong suốt thời gian cầm quyền với một sức mạnh quân sự vô địch, nhưng đầu óc lại chỉ nghĩ tới chiến thắng VC bằng chính trị, một chiến lược giá rẻ,mà không một nhà lãnh đạo nào của thế giới nghĩ tới sự kỳ quặt này, nhất là khi phải đối mặt với những kẻ sát nhân khủng bố thâm độc như cộng sản quốc tế. Năm 1967 Nixon nhậm chức tổng thống, khiến ai cũng nghĩ tới nước Mỹ sẽ leo thang chiến tranh, vì ông ta là một nhân vật diều hâu có môn bài . Ông ta cũng giống như TT Kennedy và Johnson, có chung mục tiêu là cả ba đều cương quyết không muốn VNCH phải sụp đổ vì Bắc Việt xâm lăng.
Nhưng cả ba đã lầm lẫn chiến lược lúc nhập cuộc. Với TT Kennedy và Johnson, cả hai cùng chủ trương tham chiến trong giới hạn, để không gây xáo trộn tại chính quốc, nên nói ngăn chận nhưng vẫn không cản nổi sự xâm nhập của bộ đội từ bắc vào nam và sự khuynh đảo chính trị tại VNCH. Khi Nixon lên cầm quyền, cũng là lúc nước Mỹ qua vai trò của Kissinger, đang đi đêm để nhun nhén sự nối kết Mỹ-Hoa, phá thế liên hoàn Nga-Trung, trong thế cờ thời chiến tranh lạnh giữa ba nước Hoa Kỳ-Liên Xô và Trung Cộng. Bởi vậy Nixon không bao giờ dám leo thang chiến tranh tại VN, vừa phản lại lời hứa ‘ rút quân’ khi ứng cử, vừa làm mất sự thân thiện với Trung Cộng lẫn Nga đang cổ võ và ủng hộ VC cưỡng chiếm miền Nam. Ðó là lý do Nixon trao lại cuộc chiến đang tiếp diễn ác liệt tại chiến trường Nam VN, cho VNCH tự lo liệu, qua danh từ hào nhoáng ‘ Việt Nam Hóa Chiến Tranh ’
.
Sau này qua các hồi ký chính trị của những nhân vật thân cận cao cấp của Chính PhủVNCH như Nguyễn Tiến Hưng, Hoàng Ðức Nhã.. ta mới biết được gánh nặng của các nhà lãnh đạo VNCH suốt 20 năm tồn tại, từ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm tới TT Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương.. tất cả đều bị Hoa Kỳ dùng viện trợ và sinh mệnh, để áp lực VN phải thi hành theo đường hướng của Mỹ, nhất là sự ký kết hiệp ước ngưng bắn ngày 27-1-1973. Ngoài ra những bức thơ viết tay của Tổng Thống Nixon và Ford, gửi mật cho TT .Nguyễn Văn Thiệu, với sự trang trọng cam kết, đã nói lên cái gọi là ‘ thực chất của sự mưu tìm hòa bình trong danh dự ’ và trên hết đã phần nào lột trần hai nhân vật ‘ Nixon-Kissinger’,trong vai trò chủ động tháo chạy khỏi Miền Nam, để khỏi bị sa lầy.
Không được đáp ứng theo nhu cầu đòi hỏi, TT J.Kennedy đạo diễn tấn tuồng binh biến ngày 1-11-1963 hạ sát TT hợp pháp của VNCH là Ngô Ðình Diệm, để gây xáo trộn chính trị suốt ba năm, rồi kết luận miền Nam thiếu lãnh đạo. TT Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, dùng đủ mọi thủ đoạn, kể cả hành động đê tiện là đe doạ ám sát TT Nguyễn Văn Thiệu, để hoàn thành cho được bản hiệp ước ngưng bắn Paris 1973, mới có cớ hợp thức cho phép bộ đội miền Bắc có mặt tại miền Nam. Nói là ‘ Việt Nam Hóa Chiến Tranh ‘ nhưng lại cắt viện trợ, ngưng cung cấp quân trang dụng như lời hứa, khiến cho QLVNCH lâm vào tình trạng kiệt quệ, phải bỏ nhiều phần lãnh thổ vì không có phương tiện để phòng thủ.
Rồi trong lúc Bắc Việt xua hết lực lượng, tấn công cưỡng chiếm VNCH, thì người Mỹ tháo chạy trong danh dự, suốt đêm trên nóc nhà bằng trực thăng, qua sự đùm bọc bảo vệ an ninh của QLVNCH lúc đó .
Cuối cùng từ ấy đến nay, vẫn không ngớt đổ tội cho QLVNCH là không chịu chiến đấu, nên quân đội Mỹ phải sa lầy và Miền Nam mới bị sụp đổ.
Nhưng giấy làm sao gọí được lửa và chắc là bị lương tâm cắn rứt dầy vò chịu không nổi, nên cựu ngoại trưởng Henry Kissinger, trong cuộc hội thảo tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 29-9-2010 đã tự thú “Sự thảm bại tại VN vào ngày 30-4-1975 là do Hoa Kỳ gây nên, chứ không phải VNCH“.
Lời phát biểu trên của Kissinger, tuy quá muộn màng vì thời gian dài hơn 1/3 thế kỷ nhưng có còn hơn không, vì ít ra ông cũng còn đủ can đảm đứng ra gián tiếp thay mặt cho nước Mỹ để trả lại sự công bằng và danh dự cho QLVNCH.
Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng Tư Đen Quốc Hận 2012
Mường Giang

Nguồn: http://baotoquoc.com/2013/10/27/kissinger-xac-nhan-hoa-ky-tu-troi-tay-d-e-thua-csvn-chu-khon-g-do-vnch/

Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2013

Tìm về Cội nguồn: Người Hà Nội, người giả dối hay người Việt?


Tìm về Cội nguồn: Người Hà Nội, người giả  dối hay người Việt?

LTG.
Giời ạ!
Các bạn Hà Lội cứ  việc nhận mình là người Hà Nội cho oai –  tôi đây chẳng biết nói năng ‘nàm thao’ cho phải  đạo! Mẹ tôi là người Hà Nội chính gốc con nai vàng ngơ ngác của Lưu Trọng Lư trước khi các bác đỉnh cao trí tuệ san bằng giai cấp thủ đô để mọi người ở khắp nơi đổ về nhập cư và chiếm cứ gia cư và tài sản của đám tư bản và trí thức mại sản này. Ngay cả Bà Ba Bủng theo lệnh trên vào độ Cách mạng mùa Thu năm ấy cũng phải sơ tán chạy mất dép theo những người như mẹ tôi vào Nam.
Để bây giờ các bạn gốc gác Hà-Nam-Ninh hoặc bất cứ nơi quê hương hang hốc nào đó cũng tự hào mình là người Hà Nội thủ đô ‘đầu lão của đất lước’! Oải thật!
Bên trên là comment của người viết khi tình cờ vào trang Facebook của một người bạn Hà Nội có post bài “Tôi Không Tuyển Người Hà Nội” từ Vietnamnet (Bài này không còn tìm thấy trên VNN, nhưng vẫn còn đọc được trên TTXVA), đại ý:
“Hơn chục năm lăn lộn trên thương trường, tôi gần như không tuyển người Hà Nội vào công ty, những vị trí nhân sự chủ chốt đều do người ngoại tỉnh nắm giữ.
Cách đây chỉ một tuần, do quá bực mình, tôi chỉ thẳng mặt một cậu nhân viên rồi nói:
‘Mày đi thẳng ra khỏi công ty đi, những thằng như mày, chỉ dựa dẫm gia đình, sinh ra sướng sẵn rồi, nên không bao giờ làm được việc nếu không chịu khó rèn luyện đâu. Mày đừng bao giờ coi khinh người nhà quê, người ngoại tỉnh, mày nhìn xem, năng lực, những cái mày làm được, liệu có bằng người ta không?’
Cậu này, người Hà Nội gốc, vốn do một ông sếp gửi gắm, là cháu ông ta. Do cần phải quan hệ, tôi buộc phải nhận vào, nhưng làm việc thì không ra gì mà còn hay chém gió, hay coi thường người khác. Hơn chục năm lăn lộn trên thương trường, tôi gần như không tuyển người Hà Nội vào công ty, những vị trí nhân sự chủ chốt đều do người ngoại tỉnh nắm giữ.”
Tôi đọc và để  ý thấy những lời góp ý/comments hầu hết  đều có ý chê bai, dè bỉu tác giả, một người ngoại tỉnh vào Hà Nội ăn học thành tài, làm chủ một công ty lớn, trở nên giàu có, nhưng chính ông vẫn không chấp nhận được tính trịch thượng, biếng nhác, và ỷ lại của người Hà Nội (đời nay). Không biết bao nhiêu kẻ khinh khi, miệt thị tác giả ‘nhà quê’ này là người Hà Nội đời nay, nhưng rõ ràng những phê phán góp ý của họ mang nhiều tính tự tôn, tự đại mà theo tâm lý học hàm ý che đấu tính tự ti mặc cảm của mình. Ngẫm lại bỗng thấy buồn cười cho chính những người thủ đô, tự hào và tự gán cho mình gốc gác Hà Nội. Không hiểu đến thời đại nào thì hai câu thơ sau đây còn có thể được ví von về người Hà Nội một cách không gượng ép?

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.

Theo thiển ý, hai câu này khó có thể  áp dụng theo đúng ý của nó để mô tả  nét trang nhã của người Hà Nội đời nay, kể từ sau cách mạng tháng Tám khi Đảng Cộng sản ra đời và chiến tranh giai cấp đã tước mất đi nhiều vẻ thanh lịch của Hà Nội. Chớ vội nói đến điển tích của thời kỳ vàng son và phong kiến của nhà Hán với cổ thành Trường An của họ. Khoan hẵng nói đến những gì gần hơn của Việt-Nam: một bài thơ do Nguyễn Công Trứ chắp bút, một Hoa Lư huy hoàng, cố đô đầu tiên của Việt tộc được Lý Thái Tổ đổi tên là Tràng An, cũng như Đại La trở thành kinh đô Thăng Long. Hai câu thơ trở nên ca dao trên chính là lời ngợi ca – trên bình diện tao nhã – một Hà Nội của Việt Nam một thời bình an nào đó, mà có lẽ những người như tôi, như những người trẻ khác thích o ép nó thành một Hà Nội thời thượng của riêng mình.
Và đó chính là nỗi chán chường và bực dọc của tôi (xem Lời Tác giả/chapeau bên trên).
Thật thế, về Việt Nam nhiều lần tôi cảm nhận và học hỏi được nhiều  điều. Không ít những chuyện muốn thu thập là những lần lân la ra đất Bắc. Để tìm về cội. Để tìm về thực. Để tìm về hư. Để tìm về  cái còn cái mất. Khuất tất và khắc khoải. Ngay lần  đầu tôi đã nôn náu thấp thỏm tìm về vẻ đẹp, vẻ nên thơ trang nhã của Hà Nội, bao năm nhận thức qua thi ca và văn chương quốc ngữ. Những chuyện kể của họ hàng người lớn, kể cả những huyền thoại và nhiều giai đoạn lịch sử còn chưa quên trong tâm khảm.
Đầu thập niên ’90 khi nhiều người trong Nam vẫn chưa dám ‘bén mảng’ ra Hà Nội, bất chấp lời khuyên của bác tôi (di cư ’54) ở Sàigòn: “Này cháu ngoài đấy người ta trí trá lắm không như trong Nam đâu nhé…” Tôi, một người chân ướt chân ráo từ xứ cờ Hoa trở về, vẫn cứ đơn thân độc mã lặn lội ra Hà Nội – nhất là một người sinh trưởng trong Nam trưởng thành ở Mỹ như tôi chưa bao giờ đặt chân, chưa bao giờ biết đến quê hương miền Bắc hoặc được tiếp thu trong hiện thực hình ảnh của một thời thơ mộng – vì khi sinh ra đất nước chia đôi và chiến tranh dày xéo. Tôi không thiếu lý do và những ý nguyện tốt lành khi về thăm quê mẹ mong tìm lại nét ‘hoa nhài’ năm xưa thay vì chỉ là những hoài cảm.
Để rồi với thời gian, bộ mặt thật của Hà Thành ngày càng nhếch nhác hơn khi các ông trong Bộ Chính trị và bí thư thành ủy càng cố sức chạy đua cho kịp với Sàigòn, càng chạy đua càng ‘lệch lạc’, càng sái buổi chợ. Bằng cách đòi hỏi tiền đầu tư của nước ngoài – trước khi họ muốn đầu tư trong Sàigòn – phải đổ vào ‘mở mang’ (một cách vô lối thiếu có quy hoạch của thành phố!). Hà Nội đã bước chệch hướng văn hóa còn sót lại của nó. Lý do các nước ngoại quốc thích đầu tư trong Nam thật dễ hiểu: sau bao năm tiếp xúc và làm ăn với nước ngoài, dân Sàigòn đã trở nên sành sỏi và thiện nghệ, hiểu biết và tháo vát hơn người anh em miền Bắc. Không kể bản chất cởi mở, thân thiện, thật thà, thông thạo đường lối, biết giao du, hơn dân Hà Nội, cho nên các công ty Tây phương vẫn thích làm ăn với Sài gòn. Thời 90 cho đến sau 2000, đố ai tìm được một người thợ biết may một bộ complet cho tử tế ở Hà Nội (Bắc), chưa nói đến máy ảnh, máy vi tính. Ngay cả xe ôtô, xe Honda, thợ thuyền Hà Nội thường lâm bệnh ‘chữa lợn lành thành lợn què’.
Tuy thế, ‘không ít’ người Hà Nội thích phô trương tánh cao ngạo, đầy tự ái, sĩ diện (bộ mặt thay vì ‘danh dự’) hão của mình, một phần có lẽ để khỏa lấp khiếm khuyết của họ. Trong “Bên Thắng Cuộc” Quyển I, Huy Đức đã thuật lại vấn đề ‘nhạy cảm’ như sau:
“Là một người Quảng Trị hoạt động ở Nam Bộ hàng chục năm, ông Lê Duẩn hiểu và rất nhạy cảm trước các vấn đề Nam-Bắc. Trước năm 1975, nhiều cán bộ miền Nam ra thăm miền Bắc đã hết sức ngỡ ngàng khi nhìn thấy cảnh nghèo nàn của “hậu phương lớn.” Một lần, Ban Thống nhất thấy tâm trạng của các đại biểu miền Nam không vui, lãnh đạo ban nói với ông Đậu Ngọc Xuân, thư ký của “anh Ba” Lê Duẩn: “Các đồng chí ấy nói không tốt về miền Bắc, anh về nói anh Ba nên gặp họ.”
Theo ông Đậu Ngọc Xuân: “Tôi về  nói: ‘Có đoàn ra thăm’. Anh Ba gật đầu: ‘Tốt’. Tôi thưa: ‘Kết quả ngược lại, các đồng chí bên Ban Thống nhất nhờ anh gặp làm công tác tư tưởng trước khi họ về’. Anh Ba cho mời họ tới, đoàn gồm hai phụ nữ và ba nam. Anh Ba hỏi: ‘Các đồng chí ra thăm miền Bắc thấy gì?’ Họ thật lòng nói, đi thăm chợ Đồng Xuân mà không thấy hàng hóa gì cả, miền Bắc nghèo quá. Anh Ba nói: ‘Các đồng chí không hiểu. Cái giàu có, cái vĩ đại của Miền Bắc là ở chỗ gia đình nào cũng có bàn thờ, con họ vào Nam là đi vào chỗ chết, thế mà họ vẫn đi, trong khi ở lại thì được đi Liên Xô, Trung Quốc’. Rồi anh Ba hỏi: ‘Ở trong R, các đồng chí có được dạy, ta đánh được Mỹ là nhờ truyền thống 4000 năm của Việt Nam không? Các đồng chí người ở đâu? Việt Nam! Nếu nhận người Việt Nam, không năm đời, thì mười đời cũng là gốc Bắc. Ra đây là tìm về nòi giống, cội nguồn’. Khi đoàn ra khỏi phòng, ông Lê Duẩn bảo tôi: ‘Chú xuống Viện Lịch sử, tìm một nhà sử học dẫn họ đi đến tận nơi thăm đền thờ Hai Bà Trưng, Bà Triệu’. Khi họ đi về, anh Ba hỏi: ‘Đã hiểu cội nguồn dân tộc chưa?’ Họ nói: ‘Hiểu’. Anh Ba gật đầu: ‘Bây giờ về được rồi’.”
Tháng Giêng năm 1976, theo đề nghị  của ông Lê Duẩn, ông Đậu Ngọc Xuân và ông Trần Phương, theo đường bộ, đi xe vào thẳng Sài Gòn. Ông Xuân kể, trước khi đi, Lê Đức Thọ  dặn: “Vào Nam muốn làm việc được, người ta kêu uống rượu, phải uống”. Tới Sài Gòn đã là cuối tháng Chạp, ông Lê Duẩn bảo: “Năm nay ta ăn Tết ở đây, chú nào muốn về thì về trước.” Ông Đậu Ngọc Xuân đã ở lại.
Sáng mùng Một Tết Bính Thìn, bà  Nguyễn Thị Thập bên Hội Phụ nữ mời tiệc, ông Lê Duẩn tới, mâm cỗ đã “bày la liệt”  nhưng ông không ngồi vào bàn. Khi các nữ lãnh đạo hội mời, ông nói: “Ăn Tết làm gì, con cái miền Bắc chết ở Trường Sơn chưa ai nói tới đã nói là dân miền Bắc vào đây vơ vét hàng hóa.” Theo ông Đậu Ngọc Xuân thì trước đó khi nghe bên công an báo cáo “miền Bắc vào đây vơ vét từ cái quạt máy, xe đạp,” ông Lê Duẩn tức lắm nhưng ngay khi đó ông không nói gì.
Bà Bảy Huệ, phu nhân của  ông Nguyễn Văn Linh, đỡ lời: “Thưa anh Ba, đấy chỉ  là số ít. Chúng em không bao giờ nói thế”. Ông Lê Duẩn tiếp: “Các chị không nói nhưng nghe ai nói phải vả vào mặt họ chứ. Có những việc ở trong này tôi đã phải giấu đồng bào miền Bắc, ví dụ như chuyện các chị để cho bộ đội chết đói ở Trường Sơn. Xương máu con người ta, người ta không tiếc, giờ mua cái quạt thì các chị kêu ca”. Theo ông Đậu Ngọc Xuân, nghe ông Lê Duẩn nói đến đó, “các chị Nam Bộ khóc như mưa.” (pp. 252-253)
Đấy là thời Lê Duẩn, nhưng hồi tháng Bảy năm nay (2013), nhân buổi họp giữa chủ tịch Trương Tấn Sang với tổng thống Obama tại Nhà Trắng, Nguyễn Hùng một nhà báo của BBC Việt ngữ, một bộ phận của thông tấn Anh quốc mà ai cũng biết 100% nhân viên được tuyển chọn là người Bắc – không biết bao nhiêu là người Hà Nội – đã phân tích và phê bình chuyện dịch thuật của 2 thông ngôn viên cho hai vị quốc trưởng trong bài: “Rớt mất đối tác toàn diện vì dịch thuật” một bài đầy cảm tính, thiếu trung thực. Vì thiên kiến sẵn có, anh Nguyễn Hùng đã tự ý chọn người thông ngôn của ông Sang và khen lấy khen để, cho rằng anh này “nói tiếng Việt giọng Bắc” trong khi đó trong suốt hơn khoảng 10 phút dịch thuật, không ai nghe anh (thông ngôn) ta nói một ngôn ngữ nào ngoài Anh ngữ. Và trong thực tế, khi tìm ra ngọn ngành thì người dịch cho chủ tịch Trương Tấn Sang chính là Phạm Xuân Hoàng Ân, con trai của ông Phạm Xuân Ẩn, gián điệp khét tiếng của Việt Cộng (The Perfect Spy) một người miền Nam. Điều này cho thấy tính kỳ thị vùng miền của anh Nguyễn Hùng rất nặng. Quý vị đọc giả sẽ không đọc được câu hàm ý chê bai “nói tiếng Việt giọng Bắc” này vì đã có người khiếu nại lên BBC nên cụm từ chia rẽ phân biệt vùng miền nay đã bị loại bỏ.
Mục đích bài viết này muốn nói lên một não trạng, một tật thói cần phải loại bỏ cùng với những giả dối, lấp liếm mà chế độ Cộng sản  đã thâm nhập vào phong hóa Việt Nam trong suốt 3/4 thế kỷ qua, cầu mong rằng trong giai đoạn này người Việt cần phải hiệp thông với nhau nhằm bài trừ chuyện đặc quyền, đặc lợi của đảng Cộng Sản hay bất kỳ một phe phái nào, hãy đối xử với nhau trong tinh thần bình đẳng và tử tế với ưu điểm và đặc tính thuần Việt. Còn chuyện:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An
thì còn tùy vào cách xừ thế và phong thái cũng như văn hóa của từng con người, không tùy thuộc vào vùng miền. Do vậy ai cũng có thể là con người thanh lịch xứ Tràng An!
© Nguyễn Khoa Thái Anh
© Đàn Chim Việt
Nguồn: https://docs.google.com/viewer?a=v&pid=gmail&attid=0.1&thid=141f37f711aecc56&mt=application/msword&url=https://mail.google.com/mail/u/0/?ui%3D2%26ik%3D907c7a3e6b%26view%3Datt%26th%3D141f37f711aecc56%26attid%3D0.1%26disp%3Dsafe%26zw&sig=AHIEtbRvUDY3OtzrFKLAOa6XuoZHCp-HQw

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

Trung Quốc bắn chìm tàu thăm dò dầu khí Việt nam


Nhà cầm quyền Hà nội đang bưng bít thông tin về tàu dầu khí bị Trung quốc bắn chìm?

Trên mạng xã hội đang loan tin về vụ việc chấn động Thế giới : Trung quốc đăng báo về vụ bắn chìm tàu thăm dò dầu khí Việt nam. Nhiều ảnh được phát tán trên facebook một cách nhanh chóng và các bình luận gây cháy nghẽn mạng từ 8 giờ sáng nay.
Những ảnh chụp liên tiếp được đăng trên báo Trung quốc được cộng đồng mạng lao vào chia xẻ và dịch từ tiếng Trung quốc để làm rõ :











Cảnh cuối trước khi tàu dầu khí Việt nam chìm xuống biển.






Chắc chắn chỉ một tiếng đồng hồ sau đây là mọi thứ đều được làm rõ, các blogger, facebooker đang cùng nhau làm rõ trước khi các báo lề phải chờ xin lệnh để được ...lấy thông tin.
Không phải ngẫu nhiên mà cách đây vài hôm, Ấn độ tuyên bố đưa hải quân đến Biển đông để kiên quyết bảo vệ tàu thăm dò dầu khí đang liên doanh với Việt nam. Đó chắc chắn là một động thái của Ấn độ sau khi Trung quốc đã sử dụng vũ lực để tấn công, phá hoại hoặc bắn chìm tàu thăm dò dầu khí của Việt nam hoặc Ấn độ như trong ảnh do báo Trung quốc đăng. Việc thông tin bị nhà cầm quyền Việt nam dấu nhẹm hoàn toàn có cơ sở, tuy nhiên cái kim dấu trong bọc rồi sẽ lòi ra, tác dụng ngược của chuyện bưng bít thông tin sẽ mang lại hậu quả lớn đối với những nhóm mafia chính trị đang nắm quyền.

Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=25017

Cần trả lại món nợ lịch sử

Ý kiến: Cần trả lại món nợ lịch sử

Cập nhật: 10:42 GMT - thứ sáu, 25 tháng 10, 2013

Như chúng ta đều biết, việc chép sử và tuyên truyền nội dung lịch sử từ xưa đến nay luôn phụ thuộc vào hai nhân tố chi phối: ý chí của cộng đồng dân tộc và ý chí của nhà cầm quyền.
Ở một xã hội tiến bộ, dân chủ được phát huy cao độ như Tây Âu, Mỹ và Úc thì ý chí của dân tộc và sự thật được đề cao nhiều hơn.
Ý chí của nhà cầm quyền tuy có nhưng phản ảnh không quá nặng, thậm chí không thể tìm ra.
Nhưng ở những quốc gia độc đảng, tập quyền như Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên thì vấn đề dạy sử và viết sử quả đã bị xuyên tạc đến mức nguy hiểm.
Có thể nói, chúng ta đang nợ giới trẻ tương lai quá nhiều việc chưa làm.
Ở xã hội châu Á xưa, với nền quân chủ tập quyền chuyên chế ở mức cao độ, sử gia phải là những bậc chí sĩ dũng cảm lắm mới dám nói sự thật.
Trong số đó, có nhiều sử gia đã bị kẻ cầm quyền giết hại. Điển hình như ở Trung Quốc, thời Xuân Thu, loạn thần Thôi Trữ giết vua để tiếm ngôi.
Rồi hắn ép một sử quan phải bỏ không đề cập sự kiện đó. Sử quan này là người chính trực, thà bị giết còn hơn ghi sai. Thôi Trữ đưa người em của sử gia đó lên thay, ông này vẫn ghi “Thôi Trữ giết vua” và lại bị giết.
Cứ như thế, hắn giết cả ba sử quan một lúc. Nhưng thử hỏi có mấy sử gia dũng cảm như thế?
Do vậy, lịch sử bị chép sai theo ý chí của nhà cầm quyền là điều khá phổ biến ở các quốc gia châu Á.
Và sang thế kỷ 20, hiện tượng chi phối nội dung lịch sử là khá phổ biến ở những nước cộng sản châu Á, cụ thể là ở Việt Nam và Trung Quốc, nơi mà nhà cầm quyền dùng truyền thông và hệ thống giáo dục để nói tốt cho mình.
Bởi thế, muốn đọc sử châu Á cho rõ ràng chân tướng thì phải khảo cứu nhiều tài liệu, nhiều năm và sau một thời gian dài khi sự kiện đó diễn ra. Có thể thời gian đó là 100 năm hoặc lâu hơn nữa.

'Tìm hiểu sự thực'

Chúng ta không ai có thể phủ nhận rằng, tiến tới chân thiện mỹ, vươn tới sự đúng đắn là nhu cầu chung của loài người.
Thời phong kiến TQ cũng có các sử gia không sợ hoàng đế
Chân lý có thể bị che khuất ở một thời đoạn nào đó nhưng trước sau gì cũng sẽ lộ ra.
Giới làm sử Trung Quốc hiện nay, do thành quả của đấu tranh dân chủ, đang nghiên cứu để làm rõ về những nhân vật và sự kiện bị Đảng Cộng sản Trung Quốc bóp méo hoặc thổi phồng.
Chẳng hạn như họ đang muốn trả lại vị trí đúng của Mao Trạch Đông, Lỗ Tấn, lấy lại công bằng cho ông Tưởng Giới Thạch và các chiến sỹ Quốc Dân Đảng, đánh giá lại tầm nhìn tư tưởng của Tôn Trung Sơn.
Ở Việt Nam, làn sóng ngầm cũng diễn ra tương tự trên các mạng xã hội và các trang blog nổi tiếng. Có thể nói, đấu tranh đòi trả lại sự thật cho lịch sử vừa là thành quả của tiến trình dân chủ, vừa là công cụ để đấu tranh dân chủ.
Nội dung lịch sử Việt Nam mà giới đấu tranh phản biện tập trung vào là từ sau năm 1911, thời điểm Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Việt Nam để đi - đi cứu nước hay không thì còn khá nhiều tranh cãi.
Có thể nói xét giai đoạn từ năm 1911 đến tận hôm nay, các sử gia Việt Nam còn quá nhiều việc phải làm. Chúng ta đang nợ giới trẻ quá nhiều sự thật phải trả cho sòng phẳng.
Có những điều có thể sòng phẳng ngay, có những điều cần nhiều thời gian hơn nữa nhưng tôi xin tổng kết các “món nợ” đó như sau:
Thứ nhất, đánh giá lại công lao và tài năng của các ông Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, và các trí thức yêu nước khác trong những phong trào đấu tranh nghị trường thời Pháp thuộc.
Thứ hai, không che dấu, không tâng bốc vai trò của Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam trước năm 1945.
Viết rõ những sai lầm trong đường của Đảng Cộng sản Việt Nam thời Trần Phú và Hà Huy Tập.
"Ở Trung Quốc và Việt Nam nhà cầm quyền dùng truyền thông và hệ thống giáo dục để nói tốt cho mình"
Chỉ rõ lỗi sai vô cùng nguy hiểm của Đảng Cộng Sản trong tiếng trống Xô Viết Nghệ Tĩnh, Cải cách Ruộng đất, Tết Mậu Thân, quản lý kinh tế và thất thoát nhân tài thời hậu chiến đến nay.
Thứ ba, riêng cá nhân Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh cũng quá nhiều điều chưa rõ ràng và đã được tô vẽ vĩ đại hơn sự thật. Trong xã hội Việt Nam hôm nay, đây vẫn còn là một chủ đề lớn và cực kỳ nhạy cảm, chưa ai dám hé môi công khai bàn đến.
Thứ tư, vai trò can thiệp rất lớn và quyết định của Trung Quốc và Liên Xô trong cuộc chiến chống Pháp (1946 - 1954) và cuộc chiến thứ hai (1964 - 1975) mà có người gọi là nội chiến Việt Nam, có người gọi là kháng chiến chống Mỹ.
Và cả cái được, cái mất của dân Việt Nam trong hai cuộc chiến đó.
Thứ năm, Chính quyền Sài Gòn (1954 - 1975) không thể bị gọi là “ngụy quyền”. Người Mỹ xuất hiện ở Việt Nam (1964 - 1972) không thể gọi là “kẻ xâm lược” mà là “kẻ can thiệp”.

Dân chủ và lịch sử

Tất nhiên những vấn đề đó không thể được giải quyết một lúc mà phải có lộ trình song hành với thành quả đấu tranh dân chủ.
Các nhà sử học và các nhà giáo dục đã đến lúc cần cất lên tiếng nói của mình.
Nếu không, giới trẻ Việt Nam sẽ còn tiếp tục bị “ngộ độc” bởi những luận điệu cũ rích và lạc lõng.
Có thể nói đến hôm nay, thế kỷ 20 ở Việt Nam, tuyên truyền chính trị vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nhà trường chứ không phải là giáo dục và khoa học.
Chủ nghĩa dân tộc bốc đồng và sự ồn ào, ngây thơ về chiến thắng 'Hai Đế quốc to'.
Ngoài những vấn đề kể trên, trách nhiệm của các nhà làm sử nói riêng, trách nhiệm của giới giáo dục nói chung là phải hạn chế bớt các nội dung nhấn mạnh thái quá vào tự tôn dân tộc.
Theo cố sử gia Trần Quốc Vượng, điều này diễn ra khá phổ biến ở các dân tộc châu Á và nặng nhất là ở Việt Nam và Trung Quốc.
Hai dân tộc này luôn cho mình là tuyệt vời, vĩ đại và cao đẹp, anh dũng, yêu thương nhau, thông minh và kiệt xuất.
Ở thế kỷ XIX, ông Nguyễn Đình Chiểu và dân Việt còn gọi người Pháp là “mọi trắng”, “Bạch Quỷ”.
Bây giờ hiểu ra họ văn minh hơn hẳn ta, ta chẳng có gì đáng tự hào thì đành bám lấy lịch sử, ăn vay lịch sử chiến tranh.
Nhiều năm sau chiến tranh, Việt Nam vẫn nghèo, thiếu thành tựu tầm cỡ thế giới
Bây giờ dân Việt chỉ còn biết lôi “đánh thắng Nguyên Mông, đánh thắng phong kiến Tàu” ra làm cứu cánh.
Về niềm tự hào “đánh tan tác hai đế quốc to Pháp, Mỹ” họ cố tình quên rằng nếu Bắc Việt không có trợ giúp của Nga Xô và Trung Quốc thì sẽ ra sao, nếu người Mỹ không bỏ miền Nam từ đầu năm 1973 sau Hiệp định Paris thì thế nào.
Cuộc nội chiến đó, sau năm 1973, Bắc Việt vẫn có Trung Quốc và Liên Xô trợ lực mà Nam Việt thì không còn nhờ được Mỹ.
Tấn công Mùa Xuân năm 1975 là hoàn toàn không hề cân sức giữa hai phe Nam – Bắc.
Như chúng ta đều biết, người Mỹ bỏ miền Nam Việt Nam không phải vì họ thua Việt Nam trong một cuộc đối đầu toàn diện, mà họ tự rút lui vì cân nhắc giữa được và mất nếu tiếp tục sa lầy.
Nhưng ngay cả khi những trận thắng đó dù là có thật thì chúng cũng bị giáo khoa lịch sử Việt Nam hiện nay nhìn nhận phiến diện và phủ lên một tấm màn tự tôn dân tộc quá dày.
Màn đó dày đến nỗi nhiều người Việt quên rằng đã hơn 30 năm sau chiến tranh, Việt Nam vẫn xếp vào hạng những nước kém phát triển nhất thế giới, không có một thành tựu kinh tế, khoa học, kỹ thuật nào tầm cỡ thế giới.
Họ cũng quên đi rằng Việt Nam, lúc ít lúc nhiều, chưa bao giờ hết thuộc vào Trung Quốc dù chỉ một giây.
Bản sắc, phong tục dân tộc nên giữ và phát huy nhưng tự tôn dân tộc, theo tôi được biết, chỉ nên hạn chế và kiềm chế chứ không cần nhấn mạnh trong giáo dục.
Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, tự hào dân tộc và chủ nghĩa yêu nước chỉ đem lại đố kỵ và kìm hãm sự phát triển. Nó là nguyên nhân chính của các cuộc chiến tranh và xung đột trên thế giới.
Huống chi ở châu Á, tự tôn dân tộc như ngọn lửa ngùn ngụt, trách nhiệm của chúng ta là vặn nhỏ nó lại chứ không phải như Đảng Cộng Sản Việt Nam đang khêu nó lên ngùn ngụt trong sách giáo khoa và truyền thông để làm giới trẻ bị “nhập đồng”.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Nguyễn Tâm Thức, một bạn đọc BBC ở Việt Nam.

Nguồn:  http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2013/10/131023_lich_su_viet_nam_nhin_lai.shtml

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

Cuộc xâm lược mềm không tiếng súng của Trung Quốc,

  Cuộc xâm lược mềm không tiếng súng của Trung Quốc

"
Cuộc Bắc thuộc hoá tiếp theo đang êm thắm diễn ra bởi những mưu mô gian ngoan, xảo quyệt nhất của Bắc Kinh, trong sự "cõng rắn cắn gà nhà" của tập đoàn lãnh đạo Hà Nội! "

    Ba mũi tiến công của Trung Quốc
Lê Diễn Đức
2013-10-24

000_Del6225316-305.jpg
Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh ngày 19 tháng sáu năm 2013
AFP photo 
 
Dường như cuộc Bắc thuộc hoá ngày càng nhích dần vào đúng quỹ đạo mà Bắc Kinh mong muốn.
Chúng ta thử điểm qua một số nét chính trong cuộc xâm lược mềm không tiếng súng của Trung Quốc, với sự nhân nhượng, thụ động tiếp tay để trục lợi của tập đoàn lãnh đạo Ba Đình.

Trên đất liền

Trước hết, gần 300 ngàn héc ta rừng đầu nguồn, trong đó có 264 ngàn ha thuộc 10 tỉnh biên giới xung yếu đã được giao cho người Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan thuê với thời hạn 50 năm!
Đến mức Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã công bố lá thư về việc 10 tỉnh trong nước "đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305.3534 héc ta, trong đó Hong Kong, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264.000 héc ta ; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới".
Hai vị tướng đã vạch rõ rằng, "đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia" và "mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn".
Các doanh nghiệp Trung Quốc đã khoanh vùng, cấm người Việt bén mảng, tha hồ tự tung tự tác. Thử hỏi ai biết họ làm gì trong những khu rừng mênh mông ấy?
Ngoài nguy cơ về an ninh quốc phòng, về môi trường cũng đã được thực tế chứng minh qua mấy mùa mưa lũ gần đây. Tình trạng phá rừng đầu nguồn và khai thác khoáng sản bừa bãi bằng hình thức khai thác man rợ, được nhà chức trách địa phương dung túng hoặc thậm chí ăn chia, là hai nguyên nhân chính dẫn đến thảm họa lũ bùn đất.
Điểm thứ hai cực kỳ nghiêm trọng là, bằng chiêu bài giá rẻ để đấu thầu, Trung Quốc đã chiếm tới 90% tổng thầu các dự án kinh tế quốc gia quan trọng nhất.
Ðầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam trong 20 năm qua chỉ tương đương 1,5% tổng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài FDI, nhưng tới hơn 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất... của Việt Nam, đều do Trung Quốc đảm nhiệm theo hình thức tổng thầu EPC (thiết kế, cung cấp máy móc và xây dựng).
Theo con số của Bộ Công thương tháng Bảy năm 2009, có 30 doanh nghiệp Trung Quốc tham gia làm tổng thầu EPC hoặc đối tác đầu tư trong 41 dự án ở Việt Nam. “41 dự án này đều là dự án kinh tế trọng điểm, hoặc dự án thượng nguồn, liên quan mật thiết tới tài nguyên quốc gia hoặc an ninh năng lượng”, trong số này có 12 dự án về điện lực, 4 dự án dầu khí, 5 dự án khai khoáng, 5 dự án luyện kim, 5 dự án hóa chất, 3 dự án cơ khí và 7 dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp nhẹ và dịch vụ.
Thắng thầu, các công ty Trung Quốc mang vào Việt Nam trang thiết bị, may móc, nguyên liệu dẫn đến tình trạng gia tăng nhập siêu. Tám tháng đầu năm 2013 Việt Nam đã nhập siêu của Trung Quốc gần 15 tỷ đô la, trong khi vào năm 2002 chỉ 1,5 tỷ đô la và xu hướng không hề giảm. Sự phụ thuộc phụ tùng thay thế và bảo trì kỹ thuật còn tiếp diễn trong nhiều thập niên nữa.
000_Hkg8650239-250.jpg
Những người biểu tình hô khẩu hiệu chống Trung Quốc tại Hà Nội vào ngày 02 tháng 6 năm 2013. AFP photo
 
“Mặt khác, những dự án sử dụng nhà thầu EPC Trung Quốc không tránh khỏi thực trạng hàng nghìn lao động thủ công Trung Quốc tới làm việc tại công trường gây ảnh hưởng và mất đi cơ hội việc làm, nâng cao tay nghề của công nhân Việt Nam”, tờ Dân Trí 24/06/2009 viết.
Ðiều đáng chú ý hơn là Việt Nam trở thành bãi rác để Trung Quốc đổ công nghệ lạc hậu, lỗi thời, nhiều thứ đã đã bị loại bỏ tại nước họ.
Ngoài đường chính ngạch, hàng hoá có hoá chất độc hại cũng tràn ngập thị trường Việt Nam theo đường tiểu ngạch, gây tác hại lâu dài về sức khoẻ và duy trì nòi giống. Do việc sử dụng chất độc hại trong thực phẩm, người Việt đang có tỷ lệ ung thư cao nhất thế giới, với 75 ngàn người chết mỗi năm, theo số liệu của Viện Phòng Chống Ung Thư Việt Nam hồi tháng 1/2013.
Một điểm nữa là, tình trạng người Trung Quốc đổ qua Việt Nam làm việc, sinh sống bất hợp trở thành phổ biến.
Họ xuất hiện khắp ba miền, ở Hải Phòng, Thanh Hoá, Hà Tĩnh,... và tất cả những nơi nào có các dự án của các doanh nghiệp Trung Quốc. Đội quân hàng chục ngàn người này hầu như không chịu sự quản lý của nhà chức trách, họ kết bè nhóm, gây lộn, quấy rối người dân xung quanh. Có thể nói không gì khác hơn là nuôi ong tay áo.

Dưới biển

Năm 1974, lợi dụng tình thế khó xử của nhà nước cộng sản Việt Nam, Trung Quốc đã cho quân tấn công chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, lúc bây giờ chịu sự cai quản của Việt Nam Cộng Hoà. Năm 1988, Trung Quốc lại nổ súng xấm chiếm một phần quần đảo Trường Sa (đảo Gạc Ma).
Từ đó đến nay, Trung Quốc đã biến đổi Hoàng-Trường Sa thành khu vực hành chính Tam Sa, xây dựng đường bay quân sự, đưa người tới cư ngụ, du lịch... Ngư dân Việt Nam đánh cá trên khu vực biển quanh Hoàng Sa - Trường Sa luôn luôn bị khiêu khích, bắt giữ, đánh đập và cướp bóc tài sản. Tàu nghiên cứu khoa học của Việt Nam bị cắt cáp. Chính sách xem biển Đông là của mình bằng lưỡi bò chín đoạn được Trung Quốc ngang nhiên áp đặt. Không chỉ với Việt Nam mà con cả với những nước khác như Philippines.
Sự quả quyết trở lại châu Á - Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, phản ứng của Philippines bằng việc kiện Trung Quốc ra Toà án quốc tế và cái nhìn chẳng mấy thiện cảm của cộng đồng thế giới nói chung, đã khiến Bắc Kinh thay đổi ứng xử.
Chính vì thế mà có chuyến thăm Việt Nam từ ngày 13 đến 15/10 của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường. Công du Việt Nam, Lý Khắc Cường kết thúc chuyến đi con thoi này sau khi dự hội nghị Đông Á ở Brunei và thăm chính thức Thái Lan.
Tại Việt Nam , ông Lý đã có cuộc hội đàm với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và cũng gặp gỡ Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.
Hai nước đã ra tuyên bố chung 10 điểm về Hợp tác chiến lược toàn diện Việt Trung, trong đó những điểm hợp tác về kinh tế, đặc biệt trên những vùng biển chồng lấn sẽ cùng hợp tác khai thác.
Với sự thoả thuận của tập đoàn lãnh đạo Việt Nam, việc khai thác chung trên biển (đánh cá, dầu khí...) sẽ là cách hợp thức hoá dễ dàng nhất sự hiện diện của Trung Quốc trên những vùng thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Chưa kể, với trình độ kỹ thuật cao hơn của phía Trung Quốc, sự chung chạ này chỉ mang lại lợi ích cho Trung Quốc mà thôi. Từ vị trí hung hăng gây hấn, lấy của người làm của mình, bây giờ được chuyển qua tư thế cùng được chia chác hưởng lộc, thật chẳng còn gì bằng nữa!

Mặt trận văn hoá

000_Hkg8686356-250.jpg
Cuộc triển lãm thương mại các sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc diễn ra tại Hà Nội hôm 12/6/2013. AFP photo
 
Từ nhiều năm nay, những trong ngôn ngữ Việt Nam, những ngôn từ bất lợi cho Trung Quốc đều bị các phương tiện báo chí truyền thông nhà nước né tránh. Thay "Trung Quốc" bằng từ "lạ", "nước ngoài", thậm chí kẻ thù của hai Bà Trưng cũng không được nêu tên đích danh trong sách giáo khoa dành cho trẻ em.
Ở Nghĩa trang Liệt sĩ Trung-Việt Thủy Khẩu, Long Châu một phái đoàn Việt Nam đã đặt vòng hoa tưởng nhớ lính Trung Quốc chết trận năm 1979.
Báo “Hà Nội Mới” ngày 19/09/2008 đăng bài dịch ca ngợi tướng Hứa Thế Hữu, tổng chỉ huy quân đội Trung Quốc trong cuộc tấn công Việt Nam hồi 1979, người đã từng chặt đầu thường dân ở thôn Tổng Chúc, cho quân tàn phá thị xã Cao Bằng, Lạng Sơn.
Cuốn sách “Ma Chiến Hữu” của Mạc Ngôn ca ngợi "người lính anh hùng đã hy sinh vì tổ quốc Trung Hoa vĩ đại trong chiến tranh phía Nam Trung Hoa tháng Hai năm 1979” được Nhà Xuất Bản Văn Học phát hành với những quảng bá ồn ào. Blogger "Người buôn gió" gọi đây là "một sự khốn nạn trong nền văn hóa Việt Nam hiện nay", đồng thời nguyền rủa ông Trần Trung Hỷ, người dịch "Ma chiến hữu" từ nguyên tác "Chiến hữu trùng phùng".
Các sách viết về nhà cải cách Đặng Tiểu Bình, kẻ đã "dạy cho Việt Nam một bài học" năm 1979, cũng được bầy bán công khai tại Việt Nam.
Trong năm 2011, tỉnh Lào Cai đã đổi ngày tái lập tỉnh từ 10/10 sang ngày 1/10 trùng với quốc khánh Trung Quốc và căng đèn lồng sặc sỡ đón chào.
Cũng tương tự, trước đó, đại lễ Nghìn năm Thăng Long cũng được chuyển đổi từ ngày 10/10/2010 qua ngày 1/10. Trong dịp này người ta còn có ý định ra mắt bộ phim 19 tập "Lý Công Uẩn: Đường tới thành Thăng Long" do Cận Đức Mậu, người Trung Quốc làm Tổng đạo diễn, dường như được quay hoàn toàn (70%) trên đất Trung Quốc. Nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam Nguyễn Đắc Xuân cho đây là một sự lệ thuộc văn hóa Trung Quốc và ông nói “Cần cho bộ phim vào trong kho, để đánh dấu rằng trong điện ảnh Việt Nam đã từng có một sự kiện ngu dốt đến như vậy".
Tuyên bố chung Việt-Trung trong chuyến công du của Lý Khắc Cường đề cập tới việc xây dựng Viện Khổng Tử tại Hà Nội. Với cái đà tiếp tay của nhà cầm quyền phổ cập văn hoá Trung Hoa như đã nói ở trên, Viện Khổng Tử có mặt ở Hà Nội là một thách thức rất đáng quan tâm. Nó là mũi công kích có công lực nặng nhất trong việc xâm nhập văn hoá Trung Hoa vào đời sống xã hội Việt Nam vốn chịu nhiều ảnh hưởng từ một ngàn năm Bắc thuộc. Cuộc xâm lược mềm này sẽ gây tác hại to lớn, bởi vì khắc phục các hậu quả văn hoá phải mất nhiều thế hệ.

Kết luận

Chi phối và khuynh loát kinh tế trên đất liền, xâm chiếm Hoàng Sa, một phần Trường Sa như một việc đã rồi, lấn chiếm dần các vùng lãnh hải, nắm thế thượng phong trong hợp tác khai thác tài nguyên biển, và xâm nhập văn hoá, là chiến lược nắm trọn Việt Nam không cần tiếng súng.
Cuộc Bắc thuộc hoá tiếp theo đang êm thắm diễn ra bởi những mưu mô gian ngoan, xảo quyệt nhất của Bắc Kinh, trong sự "cõng rắn cắn gà nhà" của tập đoàn lãnh đạo Hà Nội!
*Bài viết trích từ trang blog Lê Diễn Đức. Nội dung không phản ảnh quan điểm của RFA.
Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/blog-tsu-102413-ldd-10242013163131.html

bài thơ quá hay từ VN

BÀI THƠ QUÁ HAY TỪ VN!

TIN QUỐC NỘI- HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8,ĐẢNG CSVN

TIN QUỐC NỘI,
      
HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8,ĐẢNG CSVN



 

TIN QUỐC NỘI
22 tháng 10 năm 2013

Hội Nghị Trung Ương 8, đảng CSVN họp trong tháng 10 năm 2013, Nguyễn Phú Trọng đã chính thức thuần phục Tầu Cộng, phe Nguyễn Tấn Dũng bị thất thế vì tham nhũng và bị cô lập vì quanh Dũng chỉ là bọn Hèn Quan và thối nát. Trương Tấn Sang ngậm miệng qua sông vì Sang dám nói “tố tham nhũng”, giám xúi nhưng “không giám làm”.

Trong đại hội, bọn cầm quyền Việt Nam đã chấp nhận giao vùng Tam Giác An Ninh Chiến Lược: Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, qua chương trình Kinh Tế Chiến Lược Quốc Gia với giá 26 Tỷ Mỹ Kim. Vùng nầy sẽ hoàn toàn do Trung Cộng Quản Lý. Trên lý thuyết, để che đậy hành vi bán nước, bọn cần quyền cộng sản Việt Nam dề cử Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải, người Việt gốc Hoa, chính gốc tỉnh Quảng Đông đặc trách Chương trình này.

Vùng Tam Giác được coi là vùng Chiến Lược an ninh quốc gia, nhưng cũng như là Đầu não của vùng Đông Nam Á Châu. Một địa đầu quan trong trong việc Hán Hoá và kiểm soát biển Đông; do đó Hà Nội – Hải Phòng - Quảng Ninh là vùng sinh tử của dân tộc Việt Nam về mặt địa dư và kinh tế. Nhưng thực ra là cơ quan đầu não về Quân Sự và Chính Trị. Sau khi tin được phổ biến, thì sự ký kết giữa Trung Cộng và CSVN đã xong, nghĩa là: Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng đã vì muốn giữ vững ngôi vị và đảng cộng sản đã ngang nhiên, chính thức bán nước cho Tầu.

Cơ Quan Đặc Trách TÌNH BAO Trung Cộng ---Trung Nam Hải,--Bộ phận HOA NAM CỤC --Cơ sở tình báo Chiến Lược của Tập Cẩm Bình, Đặt tại Côn Minh – được đặ dưới sự phối hợp của một người đàn bà 52 tuổi, tên thật là Thục Trinh, đang lãnh đạo tình báo Công An VN qua Tướng công an CSVN là Trần Đại Quang (tướng Mặt Đen)Bộ Trưởng CA; thêm vào hai tên Đặng Kim Loan – Tổng Cục 5 và Vũ Thế Ngọc – Tổng cục 2 của Bộ Công An CSVN. Sẽ chính thức theo Tầu đàn áp dân Việt.

Sự phản đối ngấm ngầm của nhiều cán bộ chính trị bộ còn liêm sỉ, nhất là những tướng tá trẻ đã ra sức chống đối mãnh liệt; trong thời gian tới, phong trào chống ngoại xâm và đòi quyền làm chủ đất nước sẽ lan rộng trong quần chúng. Phe thân Tầu và phe “Phản Tỉnh” sẽ ra mặt chống nhau. Biến động không còn âm ỷ … mà chắc chắn sẽ có những vụ thanh trừng có kế hoạch.

Vì sức ép của trung cộng, bắt buộc dân chúng phải biểu tình, bày tỏ lòng yêu nước qua nhiều hình thức. Thời gian qua, nếu không có khủng hoảng nội bộ của Phật Giáo, chắc chắn Hội Đồng Tôn Giáo đã ra đời, con số biểu tình tại Nghệ An- sẽ lên đến vài chục ngàn, không những chỉ có giáo dân mà còn lực lượng Tôn Giáo bạn hiệp thông hổ trợ. Sự việc Thủ Tướng Trung Cộng họ Lý ghé VN, thì vụ nổ kho thuốc súng tại PhúThọ làm Dũng – Trọng tưởng có Đảo Chánh bỏ lễ chạy về dinh.

Trọng được Tầu nuôi từ năm 2000 khi còn là Bí Thư Hà Nội, Dũng là đồ tể- xua người ra biển bán bãi rồi cho CA ra bắt, trấn lột, cướp tài sản của dân và vụ Trần Văn Bá, được Võ Văn Kiệt nuôi dưỡng để ý. Dũng biết Hoa Kỳ và tây phương gạt ra khỏi danh sách, từ khi còn làm Phó Thủ Tướng, Dũng đến Hawaii tháng 10 năm 1996 ký kết và sau đó bội ước, Dũng rất sợ khi bị thất sủng sẽ như Tổng Thống Phi Luât Tân ngày nào. Dũng và Sang đang trông chờ một cơ hội, vì theo Tầu, Dũng - Sang sẽ bị Trọng trấn lột, con đường duy nhất là trở về với hàng ngũ dân tộc để được an toàn về tính mạng và tiền của. Vì bởi:

** Lực Lượng Đấu tranh cho Dân chủ và Độc lập tại Quốc Nội đã hình thành, các tổ chức riêng rẽ đã ngồi lại, được sự tham gia cũa các Tướng Lãnh cao cấp trong quân Đội, Công An, đa số Tướng, Tá trẻ thêm hàng ngũ binh sĩ có lòng. Chắc chắn sức mạnh của tầng lớp – Nông - Công -Thương - Ngư dân sẽ không có một loại vũ khí nào có thể khống chế được. – Tầng lớp trí thức : Luật sư – giáo sư – Y giới – Truyền thông – Văn nghệ sĩ và Thanh niên Sinh viên sẽ là những tiếng nói thôi thúc lòng yêu nước của hằng triệu con tim.



** Chắc Chắn Đảng CSVN phải bị giải thể - thay đổi từ Nô Lệ, Độc tài, nghèo khổ thành Độc lập, Dân chủ và Thịnh vượng



ngày 22 tháng 10 năm 2013

Tôn Nữ Kiều Giang

Phòng Thông Tin Quốc Nội
 
Nguồn: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=10152290244662729&set=a.10150555696937729.477622.671302728&type=1